TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HSST
Ngày: 29/8/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thận
2. Ông Trần Huệ .
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 77/2024/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/ QĐXXST – HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Quốc V, sinh năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chứng minh nhân dân số: [...] cấp ngày 18/01/2024
NCT: Số C P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không;
trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn L và bà Võ Thị Đ; Tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân:
Ngày 21/3/1996, bị Tòa án nhân dân Quận 3, TP .xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về Tội chống người thi hành công vụ, theo Bản án số 32/HSST, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Ngày 28/12/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn TP. Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù giam về Tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 137/HSSST, bị can đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Ngày 23/10/2020, bị TAND Quận Thủ Đức, TP.ra Quyết định số 399/QĐHC đưa vào cơ sở cai nghiện buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong ngày 13/6/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Chí L1 năm 1973
Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Chí T năm 1999.
Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Chí T1 Nguyễn Chí L1sinh năm 1973. (Có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 04/5/2024, Lý Quốc V1 bộ đến quán nước gần Công ty B thôn B, xã Đ, huyện B nước. Một lúc sau, ông Nguyễn Chí L2 khiển xe môtô hiệu Honda loại Wave, biển số: 66G1-393.40 (mượn của anh Nguyễn Chí T2) đến quán uống nước. Do là người quen cũ, nên Vvà ông L1chào hỏi nhau. Sau đó, ông Llđi vào võng nằm bấm điện thoại. Lúc này, V2 thấy xe môtô biển số: 66G1-393.40 cắm sẵn chìa khóa, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Vđi lại ngồi lên xe nổ máy điều khiển đi về hướng thành phố Đông L1phát hiện bị mất xe, nên trình báo Công an xã Đtiến hành truy đuổi, đồng thời phối hợp với Công an các địa phương khác để truy bắt. Khi V1 đến K đường Q thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phướcthì bị lực lượng Công an chặn lại, bắt quả tang người cùng tang vật giao Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bxử lý theo luật định.
- Tại Kết luận định giá số 22 ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B: tại thời điểm xảy ra tội phạm 01 xe môtô hiệu Honda loại Wave, biển số: 66G1-393.40 có giá trị 9.000.000 đồng.
- Vật chứng vụ án, Cơ quan CSĐT – Công an huyện B xử lý: trả 01 xe môtô biển số: 66G1-393.40 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Chí T3
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
- Tại Cáo trạng số 81/CT –VKS.BĐ ngày 06/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lý Quốc V3 Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng khẳng định nội dung Cáo trạng số 81/CT –VKS.BĐ ngày 06/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, nên giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị: về tội danh và hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Quốc V4 Tội trộm cắp tài sản; áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lý Quốc V5 09 đến 12 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Quốc V6 nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Người bị hại không có ý kiến, yêu cầu gì về vụ án; đề nghị xử bị cáo mức án thấp để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện BViện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do không có tiền tiêu xài nên ngày 04/5/2024, Lý Quốc V đã lén lút trộm cắp 01 xe môtô hiệu Honda loại Wave, biển số: 66G1-393.40 có giá trị 9.000.000 đồng của ông Nguyễn Chí L3 tại thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lý Quốc V7 phạm Tội trộm cắp tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do bản tính lười lao động muốn có tiền để tiêu xài bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ; hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu do có 02 tiền án về Tội chống người thi hành công vụ và Tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không tu chí làm ăn lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2007.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B trả lại cho anh Nguyễn Chí T2 01 xe môtô biển số: 66G1-393.40; anh T4 chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nói trên nên việc trả lại xe cho anh T4 đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị cáo trộm cắp, không có yêu cầu gì nên không giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lý Quốc V4 “Tội trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lý Quốc V8 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lý Quốc V9 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Huệ |
Bản án số 79/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hnh2 sự, bị cáo Lý Quốc Vinh, Tội trộm cắp ài sản
