|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2024/HSPT | |
| Ngày: 26/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Anh |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Mỹ Hải |
| Ông Nguyễn Quang Trung | |
| - Thư ký phiên tòa: | Ông Lê Văn Nam – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên. | |
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 87/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Đắc L, Nguyễn Tuấn K, Phan Anh T, Nguyễn Văn V, Nguyễn Tân L1, Nguyễn Đình T1, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy K1, Lưu Quang T3, Đàm Xuân Đ, Phạm Lê Hoàng T4, Nguyễn Trường C, Nguyễn Nhật M, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Quang T5, Nguyễn Đức T6, Hoàng Đức N, Nông Văn May H1, Hoàng Trung T7, Lê Ngọc T8, Phạm Thanh Quang A, Thái Huy Đ1, Nguyễn Duy H2, Nguyễn Viết A1, Trương Việt A2, Nguyễn Thị Thanh T9, Nguyễn Huy C2, Phan Văn H3 bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về về tội “Gây rối trật tự công cộng”; do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Viết A1; Phan Anh T, Nguyễn Văn C1; đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Viết A1 và đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Huy C2 đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 10 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Phan Anh T; Giới tính; Nam; Sinh ngày 06/10/2006, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn T10; Con bà: Phan Thị L2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 22/12/2023; Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Nguyễn Văn C1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/11/2004, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Q; Con bà: Hoa Thị T11; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/12/2021, Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính số tiền 3.000.000đ về hành vi “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ; Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 29/11/2023; Hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Nguyễn Viết A1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/7/2007, tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT: thôn E, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: nhà số D, đường N, khối A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: học sinh trường D; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thế H4; Con bà: Đinh Thị L3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 07/06/2023, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
- Bị cáo không có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Huy C2; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/9/2007 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Huy T12; Con bà: Đinh Thị H5; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 23/5/2023, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo có kháng cáo:
- Ông Nguyễn Thế H4, sinh năm 1980; địa chỉ: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Là bố bị cáo Nguyễn Viết A1); Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Huy T12, sinh năm 1982 và bà Đinh Thị H5, sinh năm 1982; Trú tại: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (là bố và mẹ bị cáo C2). Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có kháng cáo:
- Ông Phan Văn T10, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Là bố bị cáo Phan Anh T); Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa:
- + Bà Nguyễn Thị Tuyết M1, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N – là người bào chữa cho các bị cáo: Phan Anh T, Nguyễn Huy C2, Nguyễn Viết A1; Có mặt tại phiên tòa.
- + Luật sư Nguyễn Văn T13, sinh năm 1981, công tác tại: Công ty L5 - ILC – là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy C2. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 24 bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị; bị cáo Nguyễn Đắc L có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo L nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 20/11/2023, sau khi dự sinh nhật của Nguyễn Ngọc T2 tại quán Đ3 ở số E, đường N, thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, nhóm bạn của T2 gồm có 31 đối tượng điều khiển xe máy đi đến Có thuộc phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An để đổ xăng. Tại đây, các đối tượng trong nhóm tháo hoặc lấy khẩu trang bịt biển kiểm soát xe để khi di chuyển trên đường tránh lực lượng chức năng và người dân phát hiện, bắt giữ. Các đối tượng thống nhất điều khiển xe máy chạy với tốc độ cao, lạng lách đánh võng, dàn thành nhiều hàng ngang, bấm còi inh ỏi, nẹt pô, bốc đầu xe gây náo loạn đường phố. Sau đó, quay video đăng tải trên mạng xã hội nhằm mục đích phô trương thanh thế để nhóm của mình được nhiều người biết đến và có thêm đồng bọn tham gia. Nhóm Nguyễn Ngọc T2 sử dụng nhiều xe mô tô chở từ 2, 3 người để di chuyển. Trong đó, Nguyễn Văn H điều khiển xe máy chở Nguyễn Ngọc T2; Nguyễn Văn V, điều khiển xe máy chở Nguyễn Trường C; Nguyễn Đức T6 điều khiển xe máy chở Hoàng Đức N; Nguyễn Đình T1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Viết Gia H6, sinh ngày 15/6/2008, trú tại xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Tân L1; Nông Văn May H1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Quang T5; Nguyễn Nhật M điều khiển xe máy chở Phạm Lê Hoàng T4 và Hồ Thị Quỳnh P; Phạm Văn C3, sinh ngày 10/03/2008, trú tại xóm K, xã N, thành phố V điều khiển xe máy chở Trần Quang T14, sinh ngày 03/08/2008, trú tại xóm D, xã N, thành phố V và Hoàng Trung T7; Phạm Thanh Quang A điều khiển xe máy chở Nguyễn Duy K1; Lê Ngọc T8 điều khiển xe máy chở Nguyễn Viết A1; Đàm Xuân Đ điều khiển xe máy chở Thái Huy Đ1; Nguyễn Duy H2 điều khiển xe máy chở Nguyễn Huy C2 và Trương Việt A2; Lưu Quang T3 điều khiển xe máy chở Nguyễn Thị Thanh T9; Phan Văn H3, điều khiển xe máy chở Phan Anh T và Nguyễn Văn C1.
Quá trình di chuyển qua tuyến đường N, L, Mai Hắc Đ2, Lê L4, Quang T15, Trần P1, T, Hồ Tùng M2 và Nguyễn Văn C4 các đối tượng trong nhóm Nguyễn Ngọc T2 nêu trên điều khiển xe máy đi dàn thành nhiều hàng ngang, chạy với tốc độ cao, vượt đèn đỏ, rú ga, bóp còi inh ỏi, lạng lách, đánh võng, nhiều đối tượng hò hét, cổ vũ khi thấy Nông Văn May H1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Quang T5 ngồi sau bốc đầu xe. Hành vi của các đối tượng gây mất trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường, ảnh hưởng người điều khiển phương tiện tham gia giao thông, gây bức xúc, hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Khi di chuyển đến ngã tư giao nhau giữa đường N và đường L, các đối tượng trong nhóm Nguyễn Ngọc T2 thấy Nguyễn Tuấn K điều khiển xe máy chở Nguyễn Đắc L đi ngược chiều. Do có mâu thuẫn từ trước nên một số đối tượng trong nhóm Nguyễn Ngọc T2 hét lên “Đắc Lâm tề” rồi cả nhóm Nguyễn Ngọc T2 quay xe lại, tăng tốc rượt đuổi đánh L, K. Khi biết nhóm Nguyễn Ngọc T2 đuổi đánh thì Đắc L bàn bạc, thống nhất nói với Tuấn K “Nếu nhóm Tới C5 quay lại tìm mà thấy sử dụng hung khí thì quăng xe chạy và cầm đá ném. Nếu không có hung khí thì ta quay lại đấm từng thằng một”. K đồng ý và tiếp tục di chuyển về đường N. Rượt đuổi Nguyễn Đắc L và Nguyễn Tuấn K đến ngã ba giao nhau giữa đường N và đường H, thấy L và K dừng trước quán chè “L" địa chỉ số A, đường N thuộc khối B, phường T, thành phố V nên các đối tượng trong nhóm Nguyễn Ngọc T2 quay xe lại để đánh L và K. Lúc này, Nguyễn Tuấn K cầm 01 ghế (có đặc điểm ghế gập khung sắt, sơn vàng, lót ngồi và tựa lưng bằng vải lưới Textilen phủ khung, kích thước 40x40x77cm) của quán đi ra đứng giữa đường N mục đích đánh nhóm T2. Khi nhóm Nguyễn Ngọc T2 đi qua, K cầm theo ghế sắt đánh vào một số người trong nhóm T2, trong đó K đánh trúng vào tay trái của Lưu Quang T3 còn Nguyễn Đắc L đứng trong quán chè cầm sẵn 01 ghế sắt chửi bới, thách thức nhóm T2 và nói “Địt mẹ, bây ngon thì vô đây”. Sau đó, nhiều đối tượng trong nhóm Nguyễn Ngọc T2 xuống xe lao vào đánh nhau với L và K. Quá trình đánh nhau, Nguyễn Đắc L và Nguyễn Tuấn K sử dụng nhiều ghế sắt có trong quán chè “Long Béo” ném về phía nhóm T2 đồng thời chửi bới, thách thức nhóm T2. Các đối tượng trong nhóm Nguyễn Ngọc T2 sử dụng nhiều ghế sắt có trong quán chè “Long Béo” ném và chửi bới, thách thức nhóm Nguyễn Đắc L. Tại đây, Phan Anh T cầm 01 thanh kiếm dài khoảng 60cm (đã chuẩn bị và cất dấu trước đó, việc T mang kiếm đi những người trong nhóm T2 không biết) lao vào chém L và K; Trần Quang T14, Nguyễn Văn V sử dụng ghế ném; Nguyễn Tân L1 nhảy xuống xe nhặt gạch cầm trên tay rồi lên xe máy do Nguyễn Đình T1 điều khiển chở đến ném về phía nhóm L và K; Lưu Quang T3 nhảy xuống xe lao vào dùng tay, chân để đánh K; Phạm Thanh Quang A điều khiển xe máy chở Nguyễn Duy K1; Lê Ngọc T8 điều khiển xe máy chở Nguyễn Viết A1; Nguyễn Duy H2 điều khiển xe máy chở Nguyễn Huy C2 ngồi giữa và Trương Việt A2; Phan Văn H3 điều khiển xe máy chở Nguyễn Văn C1; Nguyễn Văn V điều khiển xe máy chở Nguyễn Trường C; Nguyễn Thị Thanh T9 điều khiển xe máy; Nông Văn May H1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Quang T5; Nguyễn Nhật M điều khiển xe máy chở Phạm Lê Hoàng T4 và Hồ Thị Quỳnh P; Đàm Xuân Đ điều khiển xe máy chở Thái Huy Đ1; Nguyễn Đình T1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Viết Gia H6; Phạm Văn C3 điều khiển xe máy chở Trần Quang T14 và Hoàng Trung T7 các đối tượng điều khiển xe chạy vòng quanh khu vực quán chè “L" trên đường N, bấm còi inh ỏi, rú ga, hò hét để cổ vũ hai nhóm đánh nhau. Một lúc sau, nhóm Nguyễn Ngọc T2 và nhóm Nguyễn Đắc L vứt hung khí tại hiện trường giải tán đi về. Quá trình đánh nhau giữa nhóm Nguyễn Ngọc T2 và nhóm Nguyễn Đắc L không có ai bị thương tích gì.
Sau khi xảy ra sự việc, Ủy ban nhân dân phường T, Công an phường T, Công an phường H, Công an phường Q, Công an xã N, Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố V có văn bản gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đề nghị điều tra, xử lý nghiêm hành vi gây rối trật tự công cộng của nhóm Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Tuấn K.
Đến ngày 23/11/2023 và 24/11/2023, Nguyễn Ngọc T2, Phan Anh T, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Đắc L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Đình T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy K1, Lưu Quang T3, Đàm Xuân Đ, Phạm Lê Hoàng T4, Nguyễn Trường C, Nguyễn Nhật M, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Quang T5, Nguyễn Đức T6, Nguyễn Tân L1, Hoàng Đức N, Nông Văn May H1, Hoàng Trung T7; ngày 15/12/2023, Lê Ngọc T8, Phạm Thanh Quang A, Thái Huy Đ1, Nguyễn Duy H2, Nguyễn Viết A1, Trương Việt A2, Nguyễn Thị Thanh T9; ngày 02/01/2024, Nguyễn Huy C2 và Phan Văn H3 đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Phan Anh T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 22/12/2023.
Căn cứ vào khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C1 06 (Sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 23/11/2023 đến ngày 29/11/2023.
Căn cứ vào khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết A1 04 (Bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy C2 04 (Bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12 tháng 4 năm 2024, ông Nguyễn Huy T12 và bà Đinh Thị H5 (là bố và mẹ bị cáo Nguyễn Huy C2) kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt hoặc chuyển đổi sang hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho được hưởng án treo với lý do: Trong vụ án này bị cáo là người bị bạn bè lôi kéo, rủ rê, C2 chỉ là người ngồi giữa, khi hai nhóm gây sự C2 không có hành vi gì. Ngày 15 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Viết A1 và đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Thế H4 kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ với lý do: bản án cấp sơ thẩm tuyên mức hình phạt với bị cáo là quá nặng bị cáo khi phạm tội mới 16 tuổi 04 tháng 08 ngày, vai trò trong vụ án là thứ yếu; Ngày 22 tháng 4 năm 2024 bị cáo Phan Tuấn A3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do chưa có tiền án tiền sự, đã nhận ra khuyết điểm thành khẩn khai báo giúp đỡ cơ quan công an nhanh chóng làm sáng tỏ vụ việc; Ngày 22 tháng 4 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn C1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do chưa có tiền án tiền sự, đã nhận ra khuyết điểm thành khẩn khai báo giúp đỡ cơ quan công an nhanh chóng làm sáng tỏ vụ việc;
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phan Anh T, Nguyễn Viết A1, Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Huy T12, ông Nguyễn Thế H4 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
-
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Anh T, Nguyễn Văn C1, Nguyễn
Huy C2 và Nguyễn Viết A1 giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Anh T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 22/12/2023.
- + Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 29/11/2023.
Căn cứ vào khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết A1 04 (Bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy C2 04 (Bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Nguyễn Thị Tuyết M1: là người bào chữa cho bị cáo Phan Anh T, Nguyễn Huy C2, Nguyễn Viết A1 không tranh không tranh luận gì về phần tội danh và khung hình phạt mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Ông Nguyễn Văn T13 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy C2: đề nghị xem xét bị cáo C2 khi phạm tội mới hơn 16 tuổi ở độ tuổi nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu trong vụ án có đồng phạm. Đề nghị áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi để cho bị cáo cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp cho các bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và chứng cứ, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phan Anh T, Nguyễn Viết A1, Nguyễn Văn C1, đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Huy C2 và đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Viết A1 được gửi trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và đại diện hợp pháp cho các bị cáo là chủ thể có quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo phù hợp với giới hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phan Anh T, Nguyễn Viết A1, Nguyễn Huy C2 và Nguyễn Văn C1 khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản án sơ thẩm. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 21 giờ 40 phút đến 23 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, Nông Văn May H1, Nguyễn Nhật M, Đàm Xuân Đ, Nguyễn Văn H, Lưu Quang T3, Nguyễn Đức T6, Phạm Thanh Quang A, Lê Ngọc T8, Nguyễn Duy H2 và Phan Văn H3 là người điều khiển xe máy chở Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Trường C, Phạm Lê Hoàng T4, Hoàng Đức N, Nguyễn Quang T5, Nguyễn Duy K1, Nguyễn Văn C1, Hoàng Trung T7, Nguyễn Huy C2, Nguyễn Viết A1, Trương Việt A2, Nguyễn Thị Thanh T9 và Thái Huy Đ1 di chuyển trên các trục đường N, L, Mai Hắc Đ2, Lê L4, Quang T15, Trần P1, T, Hồ Tùng M2 và Nguyễn Văn C4 chạy với tốc độ cao, lạng lách đánh võng, dàn thành nhiều hàng ngang, bấm còi inh ỏi, nẹt pô, bốc đầu xe, hò hét, cổ vũ nhau gây náo loạn đường phố, ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường và người điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Khi đi trên đường N gặp Nguyễn Đắc L, Nguyễn Tuấn K nên nhóm đối tượng đã thách thức, rệt đuổi đánh nhau. Tại quán chè “L" tại số A, đường N thuộc khối B, phường T, thành phố V khi Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Đắc L sử dụng ghế sắt ném trả thì Phan Anh T dùng kiếm, Nguyễn Văn V sử dụng ghế sắt; Nguyễn Tân L1 nhảy xuống xe nhặt gạch rồi ngồi lên xe máy do Nguyễn Đình T1 điều khiển chở để ném về phía L và K. Những hành vi trên gây bức xúc, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo Phan Anh T có dùng hung khí để gây rối nên vi phạm điểm b, khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Văn C1, Nguyễn Huy C2, Nguyễn Viết A1 vi phạm khoản 1 điều 318 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ và đúng pháp luật là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo:
[3.1 ] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo Nguyễn Văn C1 và Phan Anh T:
Đối với bị cáo Phan Anh T, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo là đối tượng tích cực thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo là người duy nhất chủ động mang theo hung khí và khi gặp nhóm Nguyễn Đắc L thì ngay lập tực dùng kiếm để tấn công nhóm Nguyễn Đắc L. Do đó, khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, hành vi phạm tội, bị cáo khi phạm tội đang ở độ tuổi dưới 18 tuổi các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn C1, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại khu vực đông dân cư sinh sống, bị cáo đã tụ tập đông người chạy xe với tốc độ cao, lạng lách đánh võng , dàn nhiều hàng ngang, bấm còi inh ỏi, nẹt pô, bốc đầu xe, hò hét, cổ vũ nhau gây náo loạn đường phố, khi các bị cáo khác đánh nhau bị cáo ngồi sau xe cổ vũ làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải xét xử nghiêm. Bị cáo là người có nhân thân xấu. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.
[3.2]. Về nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ và cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ:
Đối với bị cáo Nguyễn Viết A1 và Nguyễn Huy C2: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi các bị cáo Nguyễn Viết A1 và Nguyễn Huy C2 chỉ là người ngồi sau cổ vũ không tham gia đánh nhau, tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức. Tuy cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều đang là người dưới 18 tuổi. Các bị cáo hiện đang là học sinh, để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục được học tập không bị gián đoạn. Vì vậy, cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo sửa án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo thấy được tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật mà cải tạo tốt để trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C1 và Phan Anh T không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết A1 và đại diện hợp pháp cho bị cáo Viết A1; của người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Huy C2 được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C1 và Phan Anh T, giữ
nguyên bản án sơ thẩm về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Anh T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 22/12/2023.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 29/11/2023.
-
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết A1 và đại diện hợp
pháp; đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Huy C2, sửa bản án sơ thẩm, chuyển
sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn cho bị cáo:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết A1, Nguyễn Huy C2 mỗi bị cáo 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Viết A1 cho chính quyền UBND phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Giao Nguyễn Huy C2 cho chính quyền UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Văn C1 và Phan Tuấn A3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Viết A1, đại diện hợp pháp cho bị cáo Viết A1, đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Huy C2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nguyễn Đức Anh |
Bản án số 79/2024/HSPT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 79/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Anh Tuấn và đồng phạm - Gây rối trật tự công cộng
