Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Văn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải, bà Bùi Thị Phượng.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thanh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Thành N, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 22/10/1984, tại: tỉnh Yên Bái. Nơi ĐKNKTT: Tổ B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nơi ở: Tổ B, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn lớp: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Ngọc D, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm: 1962; Vợ Nguyễn Thị Mỹ A, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt từ ngày 06/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y – Có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1990
  • Địa chỉ: Thôn L, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1972
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Chị Nguyễn Sơn H1, sinh năm 1986
  • Địa chỉ: Tổ F, phường M, thành phố Y, tinh Y, vắng mặt;
  • + Hợp tác xã T7
  • Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Y, tỉnh Yên Bái;
  • Người đại diện hợp pháp: Chị Vũ Thị Thu H2, sinh năm 1984
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đỗ Thanh T – sinh năm 1991
  • Địa chỉ: Tổ H, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
  • + Công ty Cổ phần E
  • Địa chỉ: Số G, ngõ G, đường L, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Người đại diện hợp pháp: Anh Vũ Sỹ T1, sinh năm 1986
  • Địa chỉ: TDP T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Công ty TNHH một thành viên E
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái.
  • Người đại diện hợp pháp: Chị Vũ Thị Minh T2, sinh năm 1994,
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Công ty TNHH gỗ gia dụng Thiên Thiên
  • Địa chỉ: Khu Công nghiệp P, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
  • Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988
  • Địa chỉ: Tổ E, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
  • + Công ty TNHH T8
  • Địa chỉ: Khu Công nghiệp P, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Quang T3, sinh năm 1977
  • Địa chỉ: số C, ngách F, Thành phố Hà Nội, vắng mặt;
  • + Công ty cổ phần E
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái.
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Minh T4, sinh năm 1977
  • Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
  • + Chị Đặng Thị Hương G, sinh năm 1981
  • Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
  • Chỗ ở hiện tại: Tổ A, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Anh Đào Xuân H3, sinh năm 1979
  • Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Anh Nguyễn Quang C, sinh năm 1981
  • Địa chỉ: Tổ H, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Anh Phạm Ngọc T5, sinh năm 1982
  • Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Chị Nguyễn Thị Thúy C1, sinh năm 1988
  • Địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Anh Hoàng Tiến V, sinh năm 1986.
  • Địa chỉ: Tổ B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Anh Trần Đức B, sinh năm 1995
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Ông Phan Ngọc D, sinh năm 1960
  • Địa chỉ: Tổ B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Chị Phạm Thị H4, sinh năm 1986
  • Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;
  • + Chị Trương Thị H5, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: Tổ C, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Thành N nguyên là Giám đốc của chi nhánh Công ty cổ phần E là công ty T9 về lĩnh vực môi trường (viết tắt là Công ty E); do có nhu cầu thuê xe ô tô để đi lại nên ngày 18/5/2023, Phan Thành N đến nhà anh Nguyễn Văn N1 để thuê xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRAGE, biển số 21A-129.23 (đăng ký chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 21A-129.23 là chị Phạm Thị H4. Anh N1 đã được chị H4 ủy quyền quản lý, sử dụng chiếc xe ô tô nêu trên) thời hạn thuê từ ngày 18/5/2023 đến 18/8/2023, giá thuê là 700.000 đồng/ngày. Anh Nguyễn Văn N1 đã giao xe ô tô kèm theo giấy tờ đăng ký xe, giấy chứng nhận đăng kiểm cho Phan Thành N.

Ngày 23/5/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân, Phan Thành N đã nảy sinh ý định mang bản gốc giấy chứng nhận đăng ký và giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ô tô biển số 21A-129.23 mang đi cầm cố. Khoảng 10giờ 00phút cùng ngày, Phan Thành N gọi điện cho ông Nguyễn Mạnh H (chủ hiệu cầm đồ), đặt vấn đề vay của ông H số tiền 140.000.000 đồng, N nói sẽ để lại giấy tờ xe ô tô để cầm cố, còn xe ô tô Nam vẫn muốn sử dụng. Ông H nhận lời và hẹn N đến nhà mình để nói chuyện trực tiếp. Tại nhà ông H, N nói với ông H chiếc xe ô tô biển số 21A-129.23 là của em gái N cho N mượn để cầm cố vay tiền lo công việc và hiện em gái đang đi du lịch ở miền N. Ông H yêu cầu phải có căn cước công dân của chủ xe và chủ xe phải liên lạc với ông H để xác nhận. Sau đó, N đi về nhà và sử dụng điện thoại di động của bà Nguyễn Thị Thanh H6 là bác ruột của N nhắn tin vào số điện thoại của ông H, tự xưng là chủ xe ô tô biển số 21A-129.23 đồng ý cho Phan Thành N cầm cố giấy đăng ký xe ô tô trên (việc Phan Thành N sử dụng điện thoại của bà H6 để nhắn tin, bà H6 không biết). Đồng thời, N nhắn tin cho anh Nguyễn Văn N1 xin ảnh căn cước công dân hai mặt của chị Phạm Thị H4 nói dối là để làm hợp đồng quyết toán tiền thuê xe. Sau khi anh Nguyễn Văn N1 gửi ảnh căn cước công dân của chị Phạm Thị H4 cho Phan Thành N, thì Phan Thành N gửi tiếp cho ông H. Ông H sau khi nhận được tin nhắn và ảnh căn cước công dân trên nên tin tưởng việc N cầm cố giấy tờ xe đã được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản, ông H đã liên lạc bảo N đến làm thủ tục cầm cố giấy tờ xe với ông H. Giữa ông H và N có làm giấy bán xe ô tô biển số 21A-129.23 và hợp đồng thuê xe để hợp lý hóa việc N cầm cố giấy tờ xe cho ông H chứ không có giao dịch thực tế. H đã cho N vay số tiền 140.000.000 đồng, sau khi chiếm đoạt số tiền trên, N đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 18/8/2023, khi hết hạn hợp đồng thuê xe, do vẫn có nhu cầu sử dụng xe ô tô đi lại, Phan Thành N tiếp tục ký hợp đồng thuê xe với anh Nguyễn Văn N1 thời hạn thêm 01 tháng từ ngày 18/8/2023 đến ngày 18/9/2023.

Cuối tháng 8/2023, Phan Thành N truy cập mạng xã hội Facebook, đặt từ một tài khoản Facebook (Nam không nhớ tên tài khoản) làm giả 01 giấy đăng ký xe ô tô biển số 21A-129.23 với giá 1.350.000 đồng (giấy đăng ký xe ô tô biển số 21A-129.23 thật, trước đó N đã cầm cố cho ông Nguyễn Mạnh H), ngày 28/8/2023, Phan Thành N liên hệ với anh Đỗ Thanh T để vay số tiền 150.000.000 đồng. N nói với anh T mục đích vay tiền để điều trị bệnh cho bố đang nằm bệnh viện. Anh T yêu cầu phải để lại tài sản thì mới cho vay nên N đã mang xe ô tô biển số 21A-129.23 đến nhà anh T và nói ô tô bắt nợ của khách, đồng thời đưa cho anh T giấy đăng ký xe ô tô giả nêu trên để anh T tin tưởng. Sau khi kiểm tra giấy tờ và xe, anh T đã đồng ý chuyển cho N vay số tiền 150.000.000 đồng. N đã nhận tiền và tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, N đã nhiều lần trả tiền cho anh T với tổng số tiền là 81.000.000 đồng, còn nợ lại 69.000.000 đồng. Sau khi hết hạn hợp đồng thuê xe, anh Nguyễn Văn N1 liên hệ với Phan Thành N để lấy xe nhưng Phan Thành N luôn hứa hẹn sẽ mang trả mà không thấy trả như đã hẹn. Đến ngày 17/10/2023, anh Nguyễn Văn N1 đã trình báo sự việc đến công an xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Ngày 25/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y tiếp nhận tố giác của chị Vũ Thị Thu H2 - là kế toán của Hợp tác xã T7) tố cáo Phan Thành N chiếm đoạt tài sản của Hợp tác xã T7 (sau đây ghi tắt là Hợp tác xã T7), kết quả điều tra như sau:

Ngày 23/4/2021, Phan Thành N đại diện Công ty Cổ phần E tại Yên Bái ký hợp đồng với Hợp tác xã T7, về việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án nuôi cá lồng trên hồ T, giá trị hợp đồng thỏa thuận là 153.000.000 đồng, thời gian thực hiện là 120 ngày. Sau khi ký hợp đồng, cùng ngày Hợp tác xã đã chuyển vào tài khoản của Công ty cổ phần E tại Yên Bái 100.000.000 đồng theo thỏa thuận. Nhưng do Hợp tác xã chưa cung cấp đầy đủ các thông tin, giấy tờ nên N chưa hoàn thiện được hồ sơ. Ông Vũ Sỹ T1, Tổng Giám đốc Công ty E xác nhận nội dung này và có trách nhiệm giải quyết với Hợp tác xã T7, bản thân N không chiếm đoạt số tiền này.

Ngày 17/6/2021, do cần tiền chi tiêu cá nhân, N nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của Hợp tác xã T7, nên đã gọi điện thoại cho chị Vũ Thị Thu H2 nói với chị H2 là hồ sơ của Hợp tác xã T7 đã làm xong, yêu cầu chị H2 chuyển số tiền 39.000.000 đồng cho N để nộp tiền thẩm định tại Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Y. Chị H2 tin tưởng nên đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của N số tiền này, N nhận tiền và chi tiêu hết.

Quá thời hạn 120 ngày, không thấy kết quả từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y, nên Hợp tác xã T7 và N đã 03 lần làm việc, yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, Nam cam kết thực hiện. Sau đó, Hợp tác xã T7 liên hệ với Tổng Công ty E1 để giục N. Ngày 05/9/2023, N đến Trung tâm hành chính công tỉnh Y lấy một số thứ

tự rồi sử dụng máy vi tính của quán photo “Việt Al” (địa chỉ: tổ C, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái do chị Trương Thị H5 làm chủ) làm giả 01 Phiếu tiếp nhận hồ sơ của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Y, với nội dung đã tiếp nhận hồ sơ của Hợp tác xã T7, số tiền nộp phí là 20.400.000 đồng và chụp ảnh gửi cho chị H2. Thông báo với chị H2 phí thẩm định đã giảm nên số tiền thừa sẽ trả lại chị H2. Thời điểm này N đã bị Công ty Cổ phần E cho nghỉ việc từ 01/9/2023, nên N không đủ năng lực làm hồ sơ, đã chiếm đoạt 39.000.000 đồng của Hợp tác xã T7 để chi tiêu cá nhân. Đến nay, Công ty E đã trả lại tiền cho Hợp tác xã T7 thay cho bị cáo.

Tháng 03/2023, chị Nguyễn Sơn H1 - đại diện Công ty TNHH C3 và Công ty TNHH S, địa chỉ tại: KCN M, thôn H, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái) (sau đây gọi là Công ty TNHH C3 và Công ty TNHH S) đặt vấn đề với Phan Thành N về việc làm hồ sơ xin cấp phép môi trường. Sau đó, N đến Công ty gặp chị H1 và trực tiếp trao đổi với nhau, chị H1 nói cần hai giấy phép cho dự án của Công ty TNHH C3 và Công ty TNHH S và thỏa thuận mỗi hồ sơ dự án trị giá 100.000.000 đồng, thực hiện trong 30 ngày. N được chị H1 đưa đi khảo sát tại khu vực dự án, Nam thấy dự án của Công ty TNHH C3 có quy mô lớn nên phải lập báo cáo tác động môi trường (ĐTM), còn dự án của Công ty TNHH S chỉ cần lập hồ sơ cấp phép môi trường vì quy mô nhỏ hơn. Do hết tiền tiêu sài nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị H1. Mặc dù biết rõ bản thân mình và Công ty Cổ phần E không đủ năng lực thực hiện hồ sơ trong thời gian 30 ngày, N vẫn nói với chị H1 là thực hiện được và yêu cầu chị H1 chuyển cho N 100.000.000 đồng. Chị H1 yêu cầu N soạn thảo hợp đồng thì mới chuyển tiền, nên N soạn thảo hợp đồng theo các nội dung đã thỏa thuận và ký tên rồi chuyển cho chị H1 (hợp đồng chỉ có mình N ký). Nhận được hợp đồng, chị H1 tin tưởng nên đã dùng tiền cá nhân chuyển vào tài khoản cá nhân của N 100.000.000 đồng, N nhận tiền và chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 15/3/2023, N tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H1, N làm giả Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y với nội dung Nam nộp hồ sơ của Công ty TNHH S và đã nộp tiền lệ phí hồ sơ là 20.400.000 đồng. Nam chụp ảnh gửi Zalo cho chị H1, yêu cầu chị H1 chuyển tiền lệ phí đã nộp cho N. Chị H1 tin tưởng thông tin N đưa ra là thật nên chuyển tiền mặt cho N số tiền 20.400.000 đồng, đồng thời bảo N đưa cho lại chị H1 phiếu thu, N hứa sẽ đưa cho chị H1 sau. N nhận tiền chị H1 đưa và chi tiêu hết.

Ngày 20/3/2023, N tiếp tục làm giả Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y với nội dung N đã nộp hồ sơ của Công ty TNHH C3, tiền lệ phí là 20.400.000 đồng. Nam chụp ảnh gửi Zalo cho chị H1, với mục đích nhằm để cho chị H1 tin tưởng N vẫn đang thực hiện theo thỏa thuận. Nhưng vì chưa nhận được phiếu thu tiền của hồ sơ Công ty TNHH S nên chị H1 không chuyển tiền cho N. Chị H1 nhiều lần liên hệ với N để hỏi về phiếu thu tiền và kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y về hồ sơ của Công ty TNHH S, nhưng N vẫn chỉ hứa hẹn và không có thời gian chính xác để trả phiếu thu và kết quả hồ sơ cho chị H1. Sau đó chị H1 phát hiện N chưa nộp hồ sơ và

biết các Phiếu tiếp nhận hồ sơ Nam gửi không phải do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y ban hành nên đã yêu cầu N trả lại tiền. Tháng 9/2023, N đã trả lại chị H1 toàn bộ số tiền 120.400.000 đồng đã chiếm đoạt.

Quá trình điều tra đã tạm giữ đồ vật, tài sản sau:

  • - 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRGE màu đỏ, biển số 21A-129.23, xe đã qua sử dụng.
  • - 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô 21A-129.23, đề tên Phạm Thị H4, biển số đăng ký 21A-129.23 (bản gốc);
  • - 01 Giấy chứng nhận kiểm định số NoDA3066418, biển số đăng ký 21A-129.23 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Y kiểm định ngày 13/7/2022 (bản gốc);
  • - 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 21004316, đề tên Phạm Thị H4, biển số đăng ký 21A-129.23, đề ngày cấp 04/01/2022, đề nơi cấp Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Y.

Tại bản Kết luận định giá số 51/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRGE màu đỏ, biển số 21A-129.23, tình trạng xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt ngày 29/8/2023 là 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 602/KLGĐTTP-PC09 ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 21004316, đề tên Phạm Thị H4, biển số đăng ký 21A-129.23, đề ngày cấp 04/01/2022, đề nơi cấp Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Y là giả.

Bản Cáo trạng số 54/CT-VKSTP ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố: Bị cáo Phan Thành N về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174; “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175; “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; T6 sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự;

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, xét thấy: Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, Phan Thành N còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, nên Tòa án đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung tại Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 01/2024/HSST-QĐ ngày 30/9/2024.

Cáo trạng số: 81/CT-VKSTP, ngày 28/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái (thay thế Cáo trạng số: 54/CT-VKSTP ngày 25/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) truy tố bị cáo: Phan Thành N về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174; “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175; “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ

chức; T6 sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Thành N phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; T6 sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức”;

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo: Phan Thành N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phan Thành N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

- Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phan Thành N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; T6 sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Phan Thành N phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 11 năm đến 12 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2023;

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Văn N1 yêu cầu Phan Thành N phải trả số tiền thuê xe ô tô từ ngày 19/9/2023 đến ngày 17/10/2023 (là ngày Nguyễn Văn N1 đến cơ quan Công an trình báo) là 20.300.000 đồng. Anh Đỗ Thanh T yêu cầu Phan Thành N trả cho anh T số tiền còn lại là 69.000.000 đồng, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh N, anh T số tiền nêu trên.

- Chị Vũ Thị Thu H2 xác nhận Công ty E đã trả thay cho bị cáo số tiền là 39.000.000 đồng cho Hợp tác xã T7. Ông Nguyễn Mạnh H xác nhận Phan Thành N và gia đình bị cáo đã trả cho ông số tiền 140.000.000 đồng. Chị Nguyễn Sơn H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền 120.400.000đồng do bị cáo và gia đình bồi thường, các bị hại, đại diện bị hại đều không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự.

Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án: Đối với 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký 21A-129.23 (đã được giám định và niêm phong), đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo Phan Thành N phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, tuy nhiên sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai của bị cáo đã phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận:

* Đối với hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Do cần tiền để tiêu dùng cá nhân, ngày 17/6/2021, Phan Thành N đại diện Công ty Cổ phần E chi nhánh E ký hợp đồng với Hợp tác xã T7 về việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án nuôi cá lồng trên hồ T, sau đó bằng thủ đoạn gian dối như N gọi điện thoại cho chị Vũ Thị Thu H2 (là kế toán của công ty) đưa ra thông tin gian dối để chị H2 tin tưởng chuyển số tiền 39.000.000 đồng cho N để làm phí thẩm định hồ sơ. Sau khi nhận được số tiền trên, Phan Thành N đã chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân hết.

Tháng 3/2023, Phan Thành N đại diện Công ty Cổ phần E chi nhánh E đã thỏa thuận với chị Nguyễn Sơn H1 để lập hồ sơ giấy phép môi trường cho Công ty TNHH S và Công ty TNHH C3. Mặc dù biết rõ bản thân mình và Công ty Cổ phần E chi nhánh E không đủ năng lực thực hiện hồ sơ trong thời gian 30 ngày, N vẫn nói với chị H1 là thực hiện được và yêu cầu chị H1 chuyển cho Nam 100.000.000 đồng (tương đương 50% giá trị hợp đồng của hai dự án). Sau khi nhận được tiền trên do chị H1 chuyển, N đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 15/3/2013, N làm giả Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Y, sau đó gửi cho chị H1 để tiếp tục chiếm đoạt của chị H1 20.400.000 đồng là tiền nộp phí thẩm định hồ sơ để chi tiêu cá nhân.

Ngày 23/5/2023, Phan Thành N nảy sinh ý định mang chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRAGE, biển số 21A-129.23 (trước đó đã thuê được của anh Nguyễn Văn N1 kèm theo bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ô tô đi cầm cố giấy tờ xe để chiếm đoạt số tiền của người cho vay. Phan Thành N dùng thủ đoạn gian dối như dùng điện thoại giả mạo tin nhắn của chủ sở hữu xe, cung cấp những giấy tờ cá nhân của chủ xe để tạo lòng tin đối với ông Nguyễn Mạnh H (là chủ hiệu cầm đồ) việc bị cáo cầm cố giấy tờ xe đã được sự đồng ý của chủ sở hữu để ông H tin tưởng đồng ý cho bị cáo vay số tiền 140.000.000đồng. Sau khi nhận được số tiền trên, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

Các hành vi Phan Thành N dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Mạnh H, Hợp tác xã T7 và tài sản của chị Nguyễn Sơn H1 với tổng số tiền là: 299.400.000 đồng đã phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

* Đối với hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Ngày 23/5/2024, Phan Thành N thuê của anh Nguyễn Văn N1 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRAGE, biển số 21A-129.23 (có giá trị giá 180.000.000 đồng), trong thời gian thuê xe, Phan Thành N lạm dụng sự tín nhiệm của người quản lý tài sản và nẩy sinh ý định mang xe ô tô đi cầm cố để chiếm đoạt tài sản. Ngày 28/8/2023, Phan Thành N đã dùng 01 Giấy đăng ký xe ô tô giả và mang chiếc xe ô tô nêu trên đến cầm cố cho anh Đỗ Thanh T để vay số tiền 150.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, N đã chi tiêu cá nhân hết. Hết thời hạn thuê xe, N không có khả năng lấy xe về để trả cho anh Nguyễn Văn N1. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn N1 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

* Đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:

Ngày 15/3/2023, Phan Thành N đã làm giả Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Y, sau đó sử dụng phiếu tiếp nhận giả này gửi cho chị Nguyễn Sơn H1 để lừa đảo chiếm đoạt của chị H1 số tiền 20.400.000 đồng (là tiền nộp phí thẩm định hồ sơ).

Ngày 28/8/2023, Phan Thành N đã lên mạng xã hội Facebook mua 01 Giấy đăng ký xe ô tô giả của một người không rõ lai lịch. Sau đó Phan Thành N mang giấy tờ giả nêu trên để thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRAGE, biển số 21A-129.23 của anh Nguyễn Văn N1

Các hành vi này của bị cáo đã phạm vào “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để điều chỉnh mọi hoạt động của bản thân, nhận thức rõ được các hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến

quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước và trật tự trị an xã hội nhưng vì vụ lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy, cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh.

[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Phan Thành N chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Tuy nhiên, bị cáo là người có sức khỏe, có trình độ học vấn nhưng do lười lao động, muốn kiếm tiền bất chính để phục vụ cho nhu cầu bản thân nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém.

Bị cáo thực hiện nhiều lần hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mỗi lần đều có giá trị trên 2.000.000đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tham gia tố tụng, bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác được Tổng Công ty cổ phần X nhiều lần tặng Bằng khen (năm 2009 và 2011), bố đẻ của bị cáo ông Phan Ngọc D có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, được Thủ tướng Chính phủ, Ban T10, Chủ tịch UBND tỉnh Y tặng Bằng khen nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và tác động gia đình cùng bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại ông Nguyễn Mạnh H, chị Nguyễn Sơn H1 và một phần lớn số tiền cho anh Đỗ Thanh T các bị hại, đại diện bị hại ông Nguyễn Mạnh H, chị Nguyễn Sơn H1, chị Vũ Thị Thu H2 đều có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

[7] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tù thỏa đáng đối với từng tội danh để có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Văn N1 yêu cầu Phan Thành N phải trả số tiền thuê xe ô tô từ ngày 19/9/2023 đến ngày 17/10/2023 (là ngày Nguyễn Văn N1 đến cơ quan Công an trình báo) là 20.300.000 đồng. Anh Đỗ Thanh T yêu cầu Phan Thành N trả cho anh T số tiền còn lại là 69.000.000 đồng, bị cáo cũng nhất trí với yêu cầu bồi thường của anh N, anh T. Cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh N, anh T số tiền nêu trên

- Chị Vũ Thị Thu H2 xác nhận Công ty Cổ phần E đã trả thay cho bị cáo số tiền là 39.000.000 đồng cho Hợp tác xã T7. Ông Nguyễn Mạnh H xác nhận Phan Thành N và gia đình bị cáo đã trả cho ông số tiền 140.000.000đồng. Chị Nguyễn Sơn H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền 120.400.000đồng do bị cáo và gia đình bồi thường, các bị hại, đại diện bị hại đều không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự, nên HĐXX không xét.

[9] Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

  • - Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSBISHI ATTRGE màu đỏ, biển số 21A-129.23, xe đã qua sử dụng, 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô 21A-129.23, đề tên Phạm Thị H4, biển số đăng ký 21A-129.23 (bản gốc); 01 Giấy chứng nhận kiểm định số NoDA3066418, biển số đăng ký 21A-129.23 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Y kiểm định ngày 13/7/2022 (bản gốc), Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y trao trả cho anh Nguyễn Văn N1 là người quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp là phù hợp.
  • - 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký 21A-129.23 (đã được giám định và niêm phong) là vật chứng vụ án, cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[10] Đối với Phiếu tiếp nhận hồ sơ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y được N1 làm giả sau khi bị cáo đã nhận số tiền 39.000.000 đồng của Hợp tác xã T7, nhằm để giữ uy tín cho Công ty E, Nam không có mục đích chiếm đoạt tài sản của Hợp tác xã T7, nên không cấu thành “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không xem xét xử lý Phan Thành N về hành vi này là phù hợp.

Đối với hành vi làm giả Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y vào ngày 20/3/2023, N làm giả tài liệu nhằm để cho chị H4 tin tưởng N vẫn đang thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận, chị H4 do chưa nhận được phiếu thu tiền của ngày 15/3/2023 nên không có ý định tiếp tục đưa tiền cho N, do đó hành vi này của N không cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không xem xét xử lý Phan Thành N về hành vi này.

Đối với hồ sơ, tài liệu do Phòng An ninh kinh tế Công an tỉnh Y chuyển đến giữa Công ty Cổ phần E chi nhánh E với các Công ty khác trên địa bàn tỉnh Yên Bái, gồm:

  1. Đối với Công ty TNHH một thành viên E: Ngày 29/8/2021, Phan Thành N làm giả Phiếu tiếp nhận của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y với mục đích kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng. Sau đó N đã thực hiện theo đúng hợp đồng, không chiếm đoạt tài sản nên hành vi của N không cấu thành “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không xem xét xử lý Phan Thành N.
  2. Đối với Công ty TNHH T11: Ngày 31/5/2023, sau khi Công ty TNHH T11 đã chuyển số tiền 90.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần E chi nhánh E và chuyển số tiền 47.000.000 đồng (do chị Nguyễn Thị L - Trưởng phòng nhân sự Công ty T11, chuyển cho cá nhân N) để nộp phí thẩm định hồ sơ. N đã làm giả

Phiếu tiếp nhận hồ sơ để nhằm mục kéo dài thời gian trả kết quả, không có mục đích chiếm đoạt. Sau đó, hai Công ty T12 hợp đồng Công ty Cổ phần E đã trả lại cho Công ty TNHH T11 90.000.000 đồng, N đã trả lại Công ty TNHH T11 số tiền 47.000.000 đồng. Công ty T11 không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự. Vì vậy, hành vi của N không cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không xem xét xử lý Phan Thành N về hành vi này là phù hợp.

  1. Đối với Công ty TNHH T8: Ngày 20/7/2022, Nam nhận của Công ty TNHH T8 (đại diện là ông Phạm Quang T3 – Giám đốc) số tiền 22.100.000₫ để nộp phí thẩm định. Ngày 22/7/2022, N làm giả Phiếu tiếp nhận hồ sơ nhằm mục đích cần thêm thời gian thực hiện hợp đồng. Sau đó, N đã hoàn thiện hồ sơ, nộp vào Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y và tự nộp tiền phí thẩm định hồ sơ là 22.100.000 đồng, N không chiếm đoạt tiền của Công ty TNHH T8. Ông T3 không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự. Vì vậy, hành vi của N không cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không xem xét xử lý Phan Thành N về hành vi này là phù hợp.
  2. Đối với Công ty Cổ phần E: Ngày 30/12/2022, sau khi nhận được số tiền 22.400.000 đồng là tiền nộp phí thẩm định hồ sơ, Phan Thành N đã làm giả Phiếu tiếp nhận hồ sơ, gửi qua Zalo cho Công ty E nhằm mục đích để kéo dài thời gian làm hồ sơ, không có mục đích chiếm đoạt số tiền trên. Sau đó, Công ty E phát hiện việc N làm giả phiếu đó nhưng vẫn chấp thuận cho N tiếp tục thực hiện hợp đồng, khi hoàn thiện xong thì N đã nộp hồ sơ và tiền phí cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y. Do dự án này không được thẩm định nên hai bên thống nhất thanh lý hợp đồng. Ông Nguyễn Thành C2 - Tổng Giám đốc Công ty Ngôi sao không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự. Do vậy, hành vi của N không cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không xem xét xử lý Phan Thành N về hành vi này là phù hợp.
  3. Đối với các nội dung Phan Thành N khai báo: Việc N đưa tiền cho một số cán bộ ở Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Y để được tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nộp, thẩm định hồ sơ, gồm: Chị Đặng Thị Hương G, anh Đào Xuân H3, anh Hoàng Tiến V, anh Nguyễn Quang C, anh Phạm Ngọc T5; Phan Thành N đứng tên cá nhân nộp hộ hồ sơ xin cấp Giấy phép môi trường của Trang trại chăn nuôi lợn thịt X; Phan Thành N nộp hộ hồ sơ xin cấp Giấy phép khai thác nước mặt phục vụ nhà máy tuyển quặng sắt thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái cho Công ty Cổ phần K1; Phan Thành N nhận làm hồ sơ cho anh Trần Đức B – là nhân viên Trung tâm quan trắc môi trường về việc cấp phép môi trường quỹ đất đồi 52 đường H, huyện Y, tỉnh Yên Bái: Quá trình điều tra, xác định không có căn cứ để xử lý những nội dung trên theo quy định của pháp luật.

Đối với chị Trương Thị H5 là chủ quán photo “Việt An”, việc Phan Thành N làm giả Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả, chị H5 không biết, không liên quan, không có căn cứ xác minh xử lý trong vụ án này.

Đối với người làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 21A129.23, do N đặt hàng một tài khoản Facebook, N không nhớ tên tài khoản, không rõ thông tin, nhân thân cụ thể, nên không có căn cứ xác minh xử lý.

Đối với việc Nguyễn Mạnh H cho Phan Thành N vay tiền với lãi suất 2000đồng/01triệu/01ngày, việc vay lãi không vi phạm quy định của pháp luật, cơ quan CSĐT Công an thành phố Y không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi anh Đỗ Thanh T cho Phan Thành N cầm cố xe ô tô và giấy tờ xe của Phan Thành N, anh T không đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ nhưng vẫn đồng ý cho N cầm cố xe ô tô của người khác để vay số tiền 150.000.000đồng. Tuy nhiên, anh T không biết đó là tài sản do Phan Thành N chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn N1 mà có, do vậy đây là giao dịch dân sự, hành vi của anh Đỗ Thanh T không có dấu hiệu tội phạm nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

[11] Về án phí: Bị cáo Phan Thành N phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phan Thành N phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; T6 sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo: Phan Thành N 07 (bảy) năm tù về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phan Thành N 02 (hai) năm tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điểm điểm b, d khoản 2 Điều 341, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phan Thành N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; T6 sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Phan Thành N phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2023;

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 127, 131, 357, 468, 481, khoản 4 Điều 482 của Bộ luật Dân sự:

  • - Buộc bị cáo phải trả cho anh Đỗ Thanh T số tiền là 69.000.000 (sáu mươi chín triệu) đồng.
  • - Trả cho anh Nguyễn Văn N1 số tiền là 20.300.000 (hai mươi triệu ba trăm nghìn) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (anh Nguyễn Văn N1, anh Đỗ Thanh T) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phan Thành N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.465.000 (bốn triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại được quyền kháng cáo bản án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKND TP Yên Bái;
  • - Công an TP Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL, nghĩa vụ liên quan;
  • - THA hình sự; Lưu hồ sơ, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thành N - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; làm giả tài liệu, con dấu...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger