Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ L

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST.

Ngày: 22 - 7 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lữ Duy Minh
  2. Bà Trương Thị Thanh Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga – Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đức L, sinh năm 1993 tại Bình Thuận;

Nơi ĐKNKTT: Khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

Chỗ ở hiện nay: Khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 02/12.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Đinh Văn Đ (đã chết); Con bà: Lê Thị T, sinh năm 1978

Gia đình có 02 anh, chị, em; bị cáo là con thứ hai.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Cao Văn T (Tên gọi khác: C) – sinh năm 1994. Vắng mặt.

HKTT: Khu phố 4, phường Phước Hội, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00' ngày 08/12/2023, Cao Văn T đến nhà anh Lê Trung K, sinh năm 1977; HKTT: Thôn Phước Tiến, xã Tân Phước, thị xã L, tỉnh Bình Thuận để chơi và tổ chức nhậu. Trong lúc nhậu tại nhà anh K gồm có: K, T, Lê Đức L, sinh năm 1993 (HKTT: Khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận), T. T, T và T (chưa rõ lai lịch). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, và T đi về, T cũng lên võng nằm ngủ, còn K, L và T. T nhậu tiếp. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, L, T. T và K cũng nghỉ và nằm ngủ. Sau khi ngủ được một lúc, L thức dậy thì thấy trên cổ của T có đeo sợi dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 04 chỉ 08 phân 08 (có hoá đơn). Thấy mọi người đã ngủ hết nên L nảy sinh ý định lấy trộm sợi dây chuyền vàng của T. L lén đi đến tháo lấy sợi dây chuyền trên cổ T rồi bỏ vào túi quần của mình đi ngủ tiếp. Đến khoảng 06 giờ ngày 09/12/2023, T thức dậy đi về, L cũng thức dậy rồi điều khiển xe mô tô chạy ra thành phố P. T, B. TL gặp và nhờ một người bạn tên X (không rõ nhân thân lai lịch) đem sợi dây chuyền đi bán. Sau khi bán được sợi dây chuyền, X quay lại đưa cho L số tiền 14.600.000 đồng, L đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết. Sau khi về nhà, T phát hiện sợi dây chuyền trên cổ bị mất nên làm đơn trình báo với chính quyền địa phương. Ngày 12/12/2023, Công an xã T. P đã mời bị cáo L đến làm việc thì bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Công an xã T. P đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L để xử lý theo thẩm quyền.

* Tại Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-ĐGTS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L, kết luận: 01 sợi dây chuyền hình mắc xích vàng 18K (610), trọng lượng 04 chỉ 08 phân 08 có giá trị là 17.212.640 đồng.

Vật chứng vụ án: Là 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 04 chỉ 08 phân 08 hiện không thu giữ được.

Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo L đã bồi thường cho Cao Văn T số tiền 19.000.000 đồng, bị hại T không yêu cầu gì thêm.

Sau khi phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân của bị cáo; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng số: 86/CT-VKSLG-HS ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố bị cáo Lê Đức L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức L, phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Đức L từ: 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Ý kiến của bị cáo Lê Đức L: Đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, nên không có ý kiến tranh luận.

* Bị cáo Lê Đức L nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Bị hại ông Cao Văn T vắng mặt, Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo Lê Đức L, tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và đối chiếu với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để Hội đồng xét xử kết luận: Vào khoảng hơn 23 giờ ngày 08/12/2023, tại nhà ông Lê Trung K thuộc thôn Phước Tiến, xã Tân Phước, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Lê Đức L có hành vi lấy trộm 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18k, trị giá 17.212.640 đồng của ông Cao Văn T. Sau khi lấy trộm được sợi dây chuyền, bị cáo L đem ra thành phố P.T, tỉnh B.T bán được 14.600.000 đồng để lấy tiền tiêu xài. Đến ngày 12/12/2023, hành vi phạm tội của bị cáo L bị phát hiện, Công an xã T. P đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L để giải quyết theo thẩm quyền.

Qua đó cho thấy hành vi của bị cáo Lê Đức L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố đối với bị cáo Lê Đức L về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Đức L đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hữu tài sản hợp pháp của người khác, do đó hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương và nguy hiểm cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Đức L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6] Về hình phạt: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã nhận thức rõ được “Trộm cắp tài sản” của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích bản thân, bị cáo bất chấp, giá trị tài sản bị cáo trộm cắp lớn, sau khi trộm cắp tài sản của bị hại bị cáo bán lấy tiền tiêu xài. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo lao động, học tập, giáo dục trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã giải quyết xong.

[9] Về dân sự: Quá trình điều tra đã giải quyết xong.

[10] Về án phí: Bị cáo Lê Đức L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Đức L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Lê Đức L bị bắt thi hành án phạt tù.

Về án phí: Bị cáo Lê Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Đức L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/7/2024). Riêng bị hại Cao Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tx. L;
  • - Chi cục THADS tx. L;
  • - Công an tx. L;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ – án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Vũ Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger