TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thông Phi và Ông Võ Đăng Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024; đối với bị cáo:
ĐỖ THANH V, sinh năm 1987; Tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Thanh Q, sinh năm 1957 và bà Phan Thị Kim T, sinh năm 1956; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- Tại bản án số 20/2007/HSST ngày 17/5/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- Tại bản án số 52/2012/HSST ngày 18/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Tại bản án số 05/2013/HSST ngày 24/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt hình phạt 12 tháng tại bản án số 52/2012/HSST ngày 18/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh buộc bị cáo Đỗ Thanh V phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 04 năm 06 tháng tù;
- Tại bản án số 54/2013/HSST ngày 11/4/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 05/2013/HSST ngày 24/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh buộc bị cáo Đỗ Thanh V phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 05 năm 06 tháng tù; Đã chấp hành xong ngày 21/01/2017.
Gia đình có 06 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/8/2024 theo quyết định truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ – Công an huyện T; Có mặt.
- Bị hại: Trần Thị Thúy H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Đặng Hoàng S, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Huỳnh Trần Anh B, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Nguyễn Hồ L, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Cao Văn Anh V1, sinh năm 2007; Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết từ trước về việc mua bán cây, Đỗ Thanh V và chị Trần Thị Thúy H thường giới thiệu cho nhau về việc mua bán cây cao su tại huyện T; cứ mỗi lần V giới thiệu cho H mua được cây thì H trả tiền cò cho V tùy vào lượng cây mua nhiều hay ít.
Ngày 17/12/2023, H đến rẫy cao su ở thôn H, xã G, huyện T của bà Phan Thị Bé H1 để mua thì được bà H1 đồng ý bán với giá 85.000.000 đồng. Sáng ngày 18/12/2023, H đưa người của H vào cưa cây; đến trưa cùng ngày V nghe tin chị H đang cho nhiều người cưa cây ở lô cao su của bà H1 để chở về trong ngày, nghe vậy V nghĩ H mua cây của bà H1 mà không thông qua V, nên V gọi điện thoại cho Đặng Hoàng S, nhờ S mang hung khí (cây mã tấu tự chế của V gửi ở nhà sang) đến đường C cho V thì S đồng ý. Sau đó V tiếp tục điện thoại cho Huỳnh Trần Anh B nói “Rảnh không, đi vào rẫy bốc giùm cậu ít cây, rồi chiều về đi nhậu”. Lúc này B đang ở cùng Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Hồ L và Cao Văn Anh V1 nên B hỏi lại V “Đang ở đâu đó cậu, có cần kêu thêm người không”, V nói “Ờ, kêu thêm mấy đứa cũng được” nên B rủ K, L và V1 cùng đi.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, B, K, L và V1 gặp V tại cổng chùa L1 rồi cùng nhau đi đến rẫy cao su của bà H1. Đến nơi V nhìn thấy nhiều người đang cưa cây cao su, vừa bốc cây lên xe tải nên một mình V đến gặp H và không cho bốc cây lên xe để nói chuyện với H, H công nhận mua đám cây này không thông qua V mà thông qua một người khác tên Đ, nên V và H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau; ông Phạm Văn H2, sinh năm 1987 ở S, Đ, Đồng Nai là chủ xe tải chở cây cho H đến nói với V “sẽ gửi tiền cà phê” để V cho bốc cây chở đi nhưng V không đồng ý. Lúc này S điều khiển xe mô tô đi tới trên xe có dắt cây mã tấu mà V nhờ mang tới thấy S tới V đi đến chỗ S thì S hỏi “Ủa chuyện gì mà đông vậy anh”, thì V lấy cây mã tấu trên xe S rồi nói “không có chuyện gì đâu” rồi cầm cây mã tấu đến chỗ H và tiếp tục cãi nhau với H. Trong lúc cãi nhau V cầm cây mã tấu trên tay phải chém từ trên xuống người H, H đứng trước mặt V đưa tay trái lên đỡ thì phần lưỡi dao trúng vào lòng bàn tay của H gây thương tích, thấy H bị thương tích V nói với H “Trong lúc nóng giận, tui lỡ tay, cho tui xin lỗi”. Sau khi bị chém H được ông H2 chở đi cấp cứu tại trung tâm y tế huyện T thì B, K, L và V1 đi về, S đi đến bệnh viện đưa cơm cho mẹ S; V cầm cây mã tấu đi về nhà, khi đi đến suối nước gần nhà bà Sáu Đ1, ở khu phố L, thị trấn L, huyện T thì V vứt cây mã tấu xuống suối. Sau khi sự việc xảy ra V bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 16/8/2024 thì bị bắt tạm giam theo quyết định truy nã.
- Ngày 23/01/2024 Trần Thị Thúy H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 140/KLTTCT-TTGĐYKPYBT, ngày 03/01/2024, của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của Trần Thị Thúy H:
IV. Kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương lòng bàn tay trái từ cổ tay đến kẽ ngón 3-4 bàn tay trái, đứt gân gấp ngón 2, 3, 4 bàn tay trái đã được phẫu thuật điều trị hiện hạn chế gấp, duỗi ngón 3, 4 bàn tay trái, để lại sẹo kích thước: (13,5 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2% + 2% + 2%.
- Vết thương mặt lòng đốt gần, đốt giữa ngón 3 bàn tay trái hiện để lại sẹo kích thước: (5,5 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Trần Thị Thúy H tại thời điểm giám định là: 8%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
- + Các vết thương do vật sắc gây ra.
- + Các vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
- Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm cây mã tấu mà Đỗ Thanh V đã chém vào người Trần Thị Thúy H vào ngày 18/12/2024 nhưng không tìm thấy.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Trần Thị Thúy H yêu cầu Đỗ Thanh V bồi thường 159.000.000 đồng; gia đình Đỗ Thanh V đã bồi thường được 5.000.000 đồng, số tiền còn lại 154.000.000 đồng, chị H tiếp tục yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 74/CT-VKSND-TL ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh V về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đỗ Thanh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường được một phần thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đỗ Thanh V mức án từ 12 – 15 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Đỗ Thanh V phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Thị Thúy H theo quy định của pháp luật.
- Đối với Đặng Hoàng S đã có hành vi cầm cây dao mã tấu đến cho Đỗ Thanh V nhưng S không biết cầm mã tấu đến cho V đánh nhau, nên hành vi của Đặng Hoàng S không đồng phạm với Đỗ Thanh V.
- Đối với Huỳnh Trần Anh B, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Hồ L và Cao Văn Anh V1 đã có hành vi đi cùng Đỗ Thanh V nhưng chỉ biết là V kêu đi bốc cây, không biết đi đánh nhau, nên hành vi của B, K, L và V1 không đồng phạm với Đỗ Thanh V.
- Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Hiện nay bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ đang bị bệnh nên không có khả năng bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm số tiền bồi thường thiệt hại.
- Ý kiến của bị hại Trần Thị Thúy H:
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại rút một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổng cộng số tiền 120.000.000 đồng. Gồm: Tiền chi phí điều trị tại Trung tâm y tế T, tiền xe chở đi khám bệnh giám định thương tật, tiền tập vật lý trị liệu bàn tay trái, tiền công cho người chăm sóc, tiền mất thu nhập của bị hại trong những ngày điều trị và những ngày phục hồi sức khỏe sau khi xuất viện. Bị hại khẳng định ngoài những chi phí điều trị thương tích đã thống kê tại hồ sơ vụ án ra thì không phát sinh chi phí nào khác, bị hại cũng không cung cấp được thêm các hóa đơn chứng từ nào mới ngoài những hóa đơn chứng từ đã nộp.
- Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Hoàng S, Huỳnh Trần Anh B, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Hồ L: Không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; Đều khẳng định có nhìn thấy một mình bị cáo Đỗ Thanh V sử dụng dao tấn công bị hại gây thương tích, đồng thời khẳng định không tham gia tấn công bị hại, chỉ đứng ở ngoài, không hô hào, cỗ vũ, kích động bị cáo tấn công bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh V đều khai nhận: Do bực tức về việc chị Trần Thị Thúy H mua bán cây bao bì (cao su, điều) với người khác mà không thông qua bị cáo, nên khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 18/12/2023 tại khu vực rẫy cao su của vợ chồng ông Lê Văn H3 ở thôn H, xã G, huyện T, bị cáo Đỗ Thanh V đã có hành vi sử dụng 01 con dao (mã tấu) chém một nhát gây thương tích cho bị hại Trần Thị Thúy H với tỷ lệ tổn thương cơ thể đã được xác định là 8%.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đỗ Thanh V là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì bực tức vô cớ mà bị cáo vẫn cố ý sử dụng vũ lực tấn công bị hại gây thương tích. Bị cáo có quá trình nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị kết án về các tội phạm khác nhau nhưng vẫn không rút ra được bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm hơn, sau khi thực hiện hành vi phạm tội còn bỏ trốn gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe giáo dục bị cáo và ngăn ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo sử dụng dao (mã tấu) gây thương tích cho bị hại nên theo quy định tại điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì dao là hung khí nguy hiểm. Mặc dù bị hại không hề có mâu thuẫn gì với bị cáo nhưng bị cáo vẫn vô cớ tấn công bị hại với thương tích 8% điều này thể hiện sự côn đồ hung hãn của bị cáo; Do đó bị cáo đã phạm vào 02 tình tiết định khung hình phạt là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Thanh V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường được một phần chi phí điều trị thương tích cho bị hại - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Trần Thị Thúy H yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổng cộng số tiền 159.000.000 đồng; Tại phiên tòa, bị hại rút một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổng cộng số tiền 120.000.000 đồng. Gia đình Đỗ Thanh V đã bồi thường được 5.000.000 đồng, số tiền còn lại chị H tiếp tục yêu cầu bồi thường.
Xét thấy: Về chi phí điều trị thương tích của bị hại Trần Thị Thúy H:
6.1 Căn cứ vào Giấy ra viện đề ngày 26/12/2023 của Trung tâm y tế T thể hiện: Trần Thị Thúy H vào viện lúc 15 giờ 48 phút, ngày 18/12/2023, ra viện lúc 08 giờ 14 phút ngày 26/12/2023 (08 ngày) (BL 108);
- + Chi phí có hóa đơn gồm: Hóa đơn đề ngày 26/12/2023 số tiền 4.718.781₫ (BL 110); Hóa đơn đề ngày 26/12/2023 số tiền 2.389.000₫ (BL 111); Hóa đơn đề ngày 18/12/2023 số tiền 100.000đ (BL 113); Như vậy tổng cộng chi phí điều trị thương tích của bị hại Trần Thị Thúy H có hóa đơn là 7.207.781đ. Đây là chi phí thực tế bị hại đã chi trả do đó cần tuyên buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
- + Chi phí không có hóa đơn gồm: Tiền xe chở đi khám bệnh giám định thương tật 2.000.000đ; Tiền tập vật lý trị liệu bàn tay trái trong 01 tháng 2.000.000đ; Tiền công cho người chăm sóc, ăn uống khi nằm viện 5.000.000đ; Tiền công lao động trong vòng 6 tháng khi nằm việc và nghỉ ở nhà 40.800.000₫ (6.800.000đ/tháng x 6 tháng). Đề nghị bồi thường 15 tháng lương do hạn chế vận động, lao động 102.000.000₫ (6.800.000đ/tháng x 15 tháng). Như vậy tổng cộng bị hại Trần Thị Thúy H yêu cầu bị cáo phải bồi thường không có hóa đơn là 151.800.000₫.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với chi phí thuê xe chở đi điều trị và giám định thương tích 2.000.000đ, chi phí tập vật lý trị liệu 2.000.000đ là những chi phí không có hóa đơn nhưng xét thấy đây là các chi phí hợp lý phát sinh trên thực tế trong việc điều trị thương tích nên cần tuyên buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
6.2 Về tiền ngày công lao động bị mất:
Đối với khoản tiền công lao động bị hại yêu cầu nhưng không có hóa đơn chứng từ, bị hại cũng xác nhận làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do đó không có căn cứ để xem xét theo yêu cầu của bị hại đối với ngày công lao động do bị mất thu nhập (06 tháng x 6.800.000đ/tháng). Tuy nhiên xét thấy điều kiện thực tế lao động phổ thông tại địa phương đối với các công việc giản đơn với mức thu nhập khoảng 300.000 đồng/ngày là phù hợp do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét chấp nhận một phần thu nhập ngày công bị mất cho bị hại và người chăm sóc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị hại điều trị thực tế tại cơ sở Y1 là 08 ngày nên cần tuyên buộc bị cáo phải bồi thường số ngày thực tế điều trị. Đối với ngày công lao động bị mất để phục hồi sức khỏe bị hại yêu cầu 15 tháng là không có cơ sở, do đó chỉ chấp nhận số ngày công lao động bị mất để điều trị phục hồi sức khỏe là 30 ngày là phù hợp. Vì vậy cần chấp nhận số ngày công lao động thực tế bị mất để điều trị và phục hồi sức khỏe là 30 ngày + 08 ngày = 38 ngày x 300.000 đồng/ngày = 11.400.000đ. Tiền công cho người chăm sóc 08 ngày x 300.000 đồng/ngày là 2.400.000đ. Như vậy tổng cộng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại Trần Thị Thúy H là: 25.007.781đ, gồm: 13.800.000đ (công người chăm sóc, ngày công lao động) + 7.207.781đ (chi phí điều trị) + 4.000.000đ (tiền xe, vật lý trị liệu); Tại phiên tòa, bị hại xác định gia đình bị cáo đã bồi thường 5.000.000đ, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 20.007.781 đồng (hai mươi triệu không trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
[7] Đối với Đặng Hoàng S đã có hành vi cầm cây dao mã tấu đến cho Đỗ Thanh V nhưng S không biết cầm mã tấu đến cho V đánh nhau, nên hành vi của Đặng Hoàng S không đồng phạm với Đỗ Thanh V. Đối với Huỳnh Trần Anh B, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Hồ L và Cao Văn Anh V1 đã có hành vi đi cùng Đỗ Thanh V nhưng chỉ biết là V kêu đi bốc cây, không biết đi đánh nhau, nên hành vi của B, K, L và V1 không đồng phạm với Đỗ Thanh V. Mặt khác khi đến nơi các đối tượng này không tham gia tấn công bị hại, chỉ đứng ở ngoài, không hô hào, cỗ vũ, kích động bị cáo tấn công bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T không khởi tố các đối tượng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Đỗ Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 136; Điều 260; Điều 290; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Đỗ Thanh V 15 (mười lăm) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 và Điều 357 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Đỗ Thanh V phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Trần Thị Thúy H số tiền 20.007.781 đồng (hai mươi triệu không trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Thanh V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Bình |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thanh V phạm tội "Cố ý gây thương tích"
