|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-PT
Ngày: 29/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Vân
Ông Võ Bảo Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 142/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phan Văn G do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS – ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn G, sinh năm 1963 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: số E, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12. Con ông Phan Văn T (chết) và bà Trần Thị C (chết); có vợ là Hồ Thị P, sinh năm 1973; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Tôn Huỳnh Văn H – Công ty L và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố C.
Trong vụ án, còn có người bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/4/2023, sau khi Phan Văn G và Nguyễn Trường B uống rượu xong tại nhà của G tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ thì G và B có đến quán nước giải khát của chị Nguyễn Thị Thanh T1 dưới chân cầu T thuộc khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ để uống nước. Lúc này tại quán nước có ông Trần Văn T2 và ông Trần Văn P1 ngồi uống nước tại đây. Do G nhớ lại sự việc trước đây bản thân có từng uống rượu say gây rối và bị ông T2 giải lên Công an phường nên G bước đến gây sự, G dùng ly nước hất về phía ông T2 và ông P1 thì hai bên xảy ra cãi nhau. Tiếp đến, G xông vào đánh ông T2 thì bị ông T2 vật ngã xuống đất còn B lấy 01 cây mía dài khoảng 1,1m đuổi đánh ông P1 chạy về phía sông T nhưng không đánh được. Sau khi ông T2 vật ngã G xuống đất thì buông ra và quay lưng đi, ngay lúc này G đứng dậy nhặt lấy 01 đoạn gỗ dạng tròn dài khoảng 40cm đánh trúng vào phía sau đầu của ông T2 làm ông T2 bất tỉnh, G tiếp tục ngồi lên người và dùng tay đánh vào mặt ông T2 sau đó đi đến khu vực gần xe ép nước mía của quán lấy 01 cây dao cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại sắc nhọn dài khoảng 25cm định đâm ông T2 thì được bà Đào Thị Cẩm H1 ngăn lại và giật lấy dao nên G mới dừng lại.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 483/KLTTCT-TPYCT ngày 10/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế thành phố C xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Văn T2 tại thời điểm giám định là 28%. Cơ chế hình thành vết thương: các thương tích trên cơ thể của ông Trần Văn T2 phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 484/KLVGTT-TTPYCT ngày 10/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế thành phố C kết luận: Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến (01 đoạn gỗ dạng tròn dài khoảng 40cm, đường kính 05cm, một đầu bằng và một đầu nhọn) phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định mẫu vật giám định có thể gây ra được các thương tích trên cơ thể của ông Trần Văn T2.
Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 291/2023/KLGĐ ngày 31/7/2023 của Trung tâm P2 - Bộ Y kết luận đối với Phan Văn G:
- - Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 – ICD10) + Động kinh (G40.3 – ICD10).
- - Về năng lực: Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ban hành kèm Kết luận trên, Trung tâm P2, Bộ Y có ban hành Công văn số 291.0/PYTT ngày 31/7/2023 nêu rõ ý kiến:
- - Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.
- - Về mặt pháp lý, Trung tâm chỉ cung cấp nguồn thông tin với vai trò bổ trợ tư pháp còn việc áp dụng như thế nào là thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng.
Kết quả làm việc ban đầu Phan Văn G thừa nhận hành vi dùng hung khí là 01 đoạn gỗ dạng tròn dài khoảng 40cm, đường kính 05cm, một đầu bằng và một đầu nhọn đánh gây thương tích cho ông Trần Văn T2. Tuy nhiên, về sau khi bị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn thì G không thừa nhận hành vi gây thương tích của mình và cung cấp lời khai không phù hợp với nội dung vụ án.
Về dân sự, phía gia đình Phan Văn G đã bồi thường chi phí điều trị thương tích số tiền 6.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 cây mía dài khoảng 1,1m, đường kính khoảng 03cm.
- - 01 đoạn gỗ dạng tròn dài khoảng 40cm, đường kính 05cm, một đầu bằng và một đầu nhọn.
- - 01 cây dao cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, bản rộng 03cm, mũi sắc nhọn.
Tại bản án hình sự số 54/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, q khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phan Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 13/8/2024 bị cáo Phan Văn G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ nào mới.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo bị bệnh tâm thần, bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, gia đình bị cáo cũng đã có cung cấp thông tin về bệnh án của bị cáo trong hồ sơ vụ án, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, việc cho bị cáo tại ngoại cũng đảm bảo khả năng tự cải tạo và cũng nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục điều trị bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định: Xét thấy nội dung vụ án đã được làm rõ theo hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo đúng quy định. Lý do mà bị cáo nêu ra đã được xem xét tại cấp sơ thẩm và mức hình phạt áp dụng là tương xứng đối với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Đồng thời, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo không có hình phạt cải tạo không giam giữ. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, qua đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án cùng lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo, bị hại và các biên bản đối chất giữa bị cáo và người làm chứng (theo các bút lục 103 – 106, 108, 308), Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Do có mâu thuẫn từ trước nên bị cáo đã cùng bị hại xô xát khi gặp nhau tại quán nước giải khát của bị Nguyễn Thị Thanh T1, quá trình xô xát bị cáo đã dùng một đoạn gỗ dạng tròn dài khoảng 40cm, đường kính 05cm, một đầu bằng và một đầu nhọn là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thương tích. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại thì chỉ có bị cáo tiếp xúc gần với bị hại.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 483/KLTTCT- TPYCT ngày 10/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế thành phố C xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Văn T2 tại thời điểm giám định là 28%. Cơ chế hình thành vết thương: các thương tích trên cơ thể của ông Trần Văn T2 phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 484/KLVGTT-TTPYCT ngày 10/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế thành phố C kết luận: Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến (01 đoạn gỗ dạng tròn dài khoảng 40cm, đường kính 05cm, một đầu bằng và một đầu nhọn) phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định mẫu vật giám định có thể gây ra được các thương tích trên cơ thể của ông Trần Văn T2.
Do đó, với hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác cùng tỷ lệ thương tích của bị hại, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Sau khi tuyên án sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử xét thấy,
[3.1] Bị cáo là người đã thành niên, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình sử dụng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang, bất ổn cho quần chúng nhân dân nên cần mức hình phạt nghiêm, để bị cáo có thời gian tự ăn năn, hối lỗi đối với hành vi phạm tội của mình mà cải tạo, tu dưỡng, biết sống đặt mình vào khuôn khổ pháp luật đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.2] Quá trình tố tụng, cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo đã khắc phục hậu quả mặc dù hoàn cảnh gia đình khó khăn và bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi theo quy định tại các điểm b, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp, có căn cứ. Bên cạnh đó, việc bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và việc được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 để áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là đã xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo, bởi lẽ tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thay đổi lời khai và không thừa nhận hành vi gây thương tích cho bị hại mặc dù đã được làm việc đối chất với người làm chứng và bản thân bị cáo cũng thừa nhận chính mình là người gây thương tích cho bị hại tại cơ quan điều tra.
[3.3] Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đã xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng và phù hợp, không quá cao so với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp thêm chứng cứ nào mới để làm cơ sở xem xét. Ngoài ra, xét khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự không có quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ nên không có cơ sở xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Từ những phân tích trên, thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của Luật sư bào chữa; đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo được miễn án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn G.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Quốc |
Bản án số 79/2024/HS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 79/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
