Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-PT

Ngày: 01-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nhậm.

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng.

Ông Nguyễn Thiện Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trần Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn I. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 27/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Văn I, sinh năm: 1957. Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (đã chết) và Võ Thị T (đã chết); Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc K (đã ly hôn), có 04 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án - tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 27/01/1985, bị Công an huyện Cần Giuộc ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi “Đánh người gây thương tích”, đến ngày 01/7/1985, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc ra Quyết định miễn tố. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Những người không kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:

  • - Bị hại: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1969.
  • Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  • - Người làm chứng: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1967.
  • Cư trú: khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn I và bà Nguyễn Thị H có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau từ trước (cách khoảng 2-3 năm). Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 09/9/2023, I điều khiển xe mô tô biển số 65H7-2366 đến nhà nghỉ Q thuộc khu phố H, thị trấn C, huyện C do bà Nguyễn Thị T1 làm chủ, để thuê phòng số 20, rồi điện thoại kêu bà Nguyễn Thị H đến. Khoảng 19 giờ cùng ngày, bà H điều khiển xe mô tô biển số 62M1-233.79 đến phòng số 20 ngủ qua đêm với I. Đến khoảng 08 giờ ngày 10/9/2023, tại phòng số 20, nhà nghỉ Q, giữa I và bà H xảy ra mâu thuẫn với nhau về tiền bạc, nên I dùng cây kéo bằng sắt, loại kéo cắt chỉ, có chiều dài khoảng 12cm, lưỡi màu đen, mũi nhọn, cán sơn màu đen có sẵn trong cốp xe của I, đứng cách bà H khoảng 50cm (lúc này bà H đang ngồi trên ghế), cầm cây kéo cắt chỉ trên tay phải đâm từ sau về trước hướng từ trên xuống trúng vào ngực phải của bà H gây thương tích. Sau đó, I dùng xe mô tô biển số 62M1-233.79 đưa bà H đi cấp cứu. Ngày 11/9/2023, bà H liên lạc với I để lấy lại xe mô tô nhưng không được nên trình báo Cơ quan Công an. Đến ngày 21/9/2023, I điều khiển xe mô tô biển số 62M1-233.79 đến nhà nghỉ Q thì bị Công an mời làm việc. Qua làm việc, I thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 337/KLTTCT-TTPY ngày 31/10/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y, 1. Các kết quả chính: Ngực: sẹo vết thương ngực phải có kích thước trung bình.2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị H tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).Tại Bản án số 27 ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã tuyên xử.Tuyên bố bị cáo Trần Văn I phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Văn I 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; 585; 586 Điều 590; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Ngày 01/4/2024, bị cáo Trần Văn I kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cho hưởng án treo.Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xử, bị cáo xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung: Vào đêm 09/9/2023 cả hai thuê phòng số 20 nhà nghỉ Q, ngủ qua đêm. Đến khoảng 08 giờ ngày 10/9/2023, cả hai dự định trả phòng ra về, thì bà H có hỏi bị cáo về số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo hứa cho bà H trước đó, trong lúc nói chuyện qua lại thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau, bị cáo mở cốp xe mô tô của mình lấy cây kéo bằng sắt, loại kéo cắt chỉ, có chiều dài khoảng 12cm, lưỡi màu đen, mũi nhọn, cán sơn màu đen (có sẵn trong cốp xe) và dùng tay phải đâm vào vùng ngực phải của bà H gây thương tích. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 337/KLTTCT-TTPY, ngày 31/10/2023 của Trung tâm pháp y –Sở y tế tỉnh Y, kết luận tỷ lệ thương tật của bà Nguyễn Thị H 02%.

Hành vi trên của bị cáo Trần Văn I đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngày 01/4/2024, bị cáo Trần Văn I kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo. Qua nghiên cứu những chứng cứ có tại hồ sơ nhận thấy cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo I kháng cáo không bổ sung tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài những tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét; mức án 06 tháng tù chỉ ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Do đó kháng cáo của bị cáo I không có căn cứ chấp nhận. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn I; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với bản kết luận thương tích và các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn I và bị hại Nguyễn Thị H có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau. Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 09/9/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65H7-2366 đến nhà nghỉ Q thuộc khu phố H, thị trấn C, huyện C do bà Nguyễn Thị T1 làm chủ, để thuê phòng số 20, rồi điện thoại kêu Bị hại Nguyễn Thị H đến. Khoảng 19 giờ cùng ngày, bị hại điều khiển xe mô tô biển số 62M1-233.79 đến phòng số 20 ngủ qua đêm với bị cáo. Đến khoảng 08 giờ ngày 10/9/2023, tại phòng số 20, nhà nghỉ Q, giữa bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn với nhau về tiền bạc, nên bị cáo đã dùng cây kéo bằng sắt, loại kéo cắt chỉ, có chiều dài khoảng 12cm, lưỡi màu đen, mũi nhọn, cán sơn màu đen có sẵn trong cốp xe của bị cáo, đứng cách bị hại khoảng 50cm lúc này bị hại đang ngồi trên ghế quay lưng về phía bị cáo. Bị cáo cầm cây kéo cắt chỉ trên tay phải đâm từ sau về trước hướng từ trên xuống trúng vào ngực phải của của bị hại gây thương tích. Sau đó, bị cáo dùng xe mô tô biển số 62M1-233.79 đưa đưa bị hại đi cấp cứu. Ngày 11/9/2023, bà H liên lạc với bị cáo để lấy lại xe mô tô nhưng không được nên trình báo Cơ quan Công an. Đến ngày 21/9/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 62M1-233.79 đến nhà nghỉ Q thì bị Công an mời làm việc. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 337/KLTTCT-TTPY ngày 31/10/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Thị H tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).[3] Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định; trong lúc nói chuyện qua lại với bị hại thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau, bị cáo đã có hành vi mở cốp xe mô tô của mình lấy cây kéo bằng sắt, loại kéo cắt chỉ, có chiều dài khoảng 12cm, lưỡi màu đen, mũi nhọn, cán sơn màu đen đâm vào vùng ngực phải của bà H gây thương tích. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 337/KLTTCT-TTPY, ngày 31/10/2023 của Trung tâm pháp y –Sở y tế tỉnh Y, kết luận tỷ lệ thương tật của bà Nguyễn Thị H 02%. Với hung khí bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại qua bản ảnh mô tả vật đồng dạng (tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa Phúc thẩm bị cáo đều xác nhận cây kéo bằng sắt, loại kéo cắt chỉ, có chiều dài khoảng 12cm, lưỡi màu đen, mũi nhọn, cán sơn màu đen, sắc nhọn, nên được xác định là hung khí nguy hiểm. Giữa bị cáo và bị hại đã có quan hệ tình cảm, nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, nên hành vi của bị cáo còn mang tính côn đồ. Do đó hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nên trên là có căn cứ. Án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 6 tháng tù bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo:

[4.1] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi xét xử sơ thẩm án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo tuổi đã cao, sau khi gây thương tích đã chở bị hại đi cấp cứu và có hai người anh là Trần Văn A, Trần Văn C tham gia cách mạng, nên bị cáo và đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 6 tháng tù là phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ bị cáo có cũng như tính chất của hành vi vi phạm của bị cáo. Bị cáo kháng cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ án sơ thẩm đã áp dụng nên không có căn cứ xem xét chấp nhậ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp.

[4.2] Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: Bị cáo phạm tội có tính côn đồ nên không thuộc trường hợp được cho hưởng án treo nên không có căn cứ chấp nhận.

[5] Từ các nhận xét tại mục [4] Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận tòan bộ kháng cáo của bị cáo giữ nguyên hình phạt của án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn án phí nên không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[7]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn I. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 27/2024/HSST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn I phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Trần Văn I 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Về án phí: Bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - TAND huyện;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Văn Nhậm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 79/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn I- Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger