Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/DS- ST

Ngày 27 tháng 11 năm 2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Minh
Ông Nguyễn Việt Anh

-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Hải Minh

Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai – thành phố Hà Nội

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 99/2024/DSST ngày 22 tháng 04 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K (T1)

    Trụ sở: số F Q, phường T, quận H, Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị N – Giám đốc xử lí nợ.

    ( Quyết định ủy quyền số 0267/2023/QĐ-HĐQT ký ngảy 10/4/2023 của chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng TMCP K)

    Đại diện uỷ quyền tham gia tố tụng: ông Lương Văn P, bà Nguyễn Thị H, bà Trần Thị Hồng P1- cán bộ xử lý nợ( Giấy uỷ quyền về việc tham gia tố tụng số 126-03/2024/UQ-TCB) ngày 11/3/2024)

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1987;

    Ông Nguyễn P2, sinh năm 1986;

    HKTT: Căn 2801 P, khu đô thị V, số B ngõ A đường L, phường M, quận H, thành phố Hà Nội( xin vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Công ty cổ phần V

    Địa chỉ: Đào H, phường V, Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.( xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại Đơn khởi kiện, được bổ sung bởi các Bản tự khai, Biên bản công khai chứng cứ, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần K trình bày như sau:

1. 1 Các giao dịch tín dụng:

Ngày 24/5/2017, T1 và bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 đã ký Hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD với nội dung cụ thể như sau:

  • + Số tiền vay: 1.967.365.404 đồng
  • + Mục đích vay: Mua nhà dự án Vinpearl Condotel T
  • + Thời hạn vay: 240 tháng

Sau khi ký Hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 đã nhận đủ số tiền 1.967.365.404 đồng thông qua Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TTC2017306501 ngày 1/6/2017, cụ thể như sau:

  • Số tiền nhận nợ là: 1.967.365.404 đồng
  • Lãi suất vay như sau:
    • + Giai đoạn 1: Lãi suất từ ngày 1/6/2017 đến 1/6/2018 lãi suất cố định là 7,25%/năm.
    • + Giai đoạn 2: từ ngày hết giai đoạn 1 đến 1/6/2037 lãi suất được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản V1 (+) Biên độ 3,5%/ năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T1 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.

1.2 Tài sản bảo đảm:

Tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan bao G tài sản cùng các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc quyền ở hữu hợp pháp đối với: Căn hộ số 07, tầng 38, thuộc nhà chung cư tại Dự án Vinpearl B hoặc một tên gọi khác theo quyết định của Chủ đầu tư (hoặc cơ quan Nhà nước tùy từng thời điểm), số G đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do Công ty cổ phần V làm chủ đầu tư theo hợp đồng mua bán căn hộ số: VBC-38-07/CONDOTELTRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 5/5/2017 giữa Công ty cổ phần V và bà Nguyễn Thị Như Q. Hợp đồng thế chấp số: 14548-Quyển số 29/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/5/2017 tại Văn Phòng C3, tỉnh Khánh Hòa. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm ngày 01/6/2017.

1.3. Quá trình trả nợ, vi phạm của bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Q, ông P2 đã trả được tổng số tiền là 1.777.641.164 đồng, bao gồm: 750.000.000 đồng nợ gốc; 1.027.640.389 đồng nợ lãi trong hạn; 775 đồng tiền lãi chậm trả.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD ngày 24/5/2017, Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TTC2017306501 ngày 1/6/2017. Dư nợ tạm tính của bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 đến ngày 27/11/2024 như sau:

+ Nợ gốc: 1.217.365.404 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 122.547.161 đồng
+ Nợ lãi chậm trả: 10.790.150 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 0 đồng
+ Tổng nợ: 1.350.702.715 đồng

Ngoài ra, Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 phải chịu số tiền phạt vi phạm hợp đồng là: 97.389.232 đồng. Cụ thể căn cứ vào khoản 11.1 Điều 11 về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại của Điều khoản, điều kiện chung về tín dụng tại Ngân hàng TMCP K, Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan C mức phạt vi phạm là 8%: 1.217.365.404 x8%= 97.389.232 đồng.

Nay Ngân hàng tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt vi phạm hợp đồng là: 97.389.232 đồng

1.4. Nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:

Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, T1 khởi kiện bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan R Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Kính đề nghị Quý Tòa giải quyết các vấn đề sau:

  • - Buộc bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền tính đến ngày 27/11/2024 là: 1.350.702.715 đồng, bao gồm: 1.217.365.404 đồng nợ gốc và 122.547.161 đồng nợ lãi trong hạn, 10.790.150 đồng nợ lãi chậm trả, 0 đồng nợ lãi quá hạn và các khoản nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD ngày 24/5/2017, Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số TTC2017306501 ngày 1/6/2017 kể từ ngày 28/11/2024 cho đến ngày thanh toán xong hết khoản nợ.
  • - Kể từ ngày Q1 định/Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng TMCP K có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ, tài sản bảo đảm là: Căn hộ số 07, tầng 38 thuộc nhà chung cư (“bất động sản”) và quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu, sử dụng chung của khu căn hộ thuộc Dự án Vinpearl B hoặc một tên gọi khác theo quyết định của Chủ đầu tư (hoặc cơ quan Nhà nước tùy từng thời điểm), số G đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do Công ty cổ phần V làm chủ đầu tư theo hợp đồng mua bán căn hộ số: VBC-38-07/CONDOTEL TRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 5/5/2017 giữa Công ty cổ phần V và bà Nguyễn Thị Như Q.
  • - Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 đối với Ngân hàng TMCP K. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho T1.

2. Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và biên bản làm việc:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 trình bày

Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 xác định có ký hợp đồng tín dụng số TTC20173065/HĐTD với ngân hàng TMCP K số tiền là 1.967.365.404 đồng để mua nhà dự án Vinpearl Condotel T căn số VBC-38-07. Bà Q, ông P2 đã được giải ngân đủ số tiền nêu trên. Bảo đảm cho khoản vay này là tài sản cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp đối với: Căn hộ số 07 tầng 38 thuộc nhà chung cư tại Dự án Vinpearl B, số G T, L, N, Khánh Hòa do Công ty cổ phần V làm chủ đầu tư theo hợp đồng mua bán căn hộ số: VBC-38-07/Condotel Trần Phú/HĐMBCH ngày 05/5/2017 giữa công ty cổ phần V và bà Nguyễn Thị Như Q. Hợp đồng thế chấp số: 14548-Quyển số 29/TP/CC-SCC/HĐV ngày 29/5/2017 tại văn phòng C3, tỉnh Khánh Hòa.

Tuy nhiên, trong quá trình vay, do khó khăn về kinh tế nên bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan C1 thanh toán khoản vay dẫn đến khoản nợ quá hạn thanh toán. Bà, ông xác định vẫn đang cố gắng để thanh toán khoản vay cho ngân hàng, đề nghị ngân hàng xem xét tạo điều kiện miễn giảm một phần lãi xuất cho bà, ông. Trường hợp nếu bà và ông không thanh toán được thì sẽ phối hợp với ngân hàng xử lý tài sản để thanh toán cho toàn bộ khoản vay. Ông P2, bà Q xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty cổ phần V trình bày:

1. Thông tin về quá trình thanh toán tiền mua Căn hộ VBC-38-07 của Bị đơn và tình trạng bàn giao, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận)

  • Công ty V đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số VBC-38-7/CONDOTEL TRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 05/05/2017 và các phụ lục bản sửa đổi bổ sung đính kèm (Sau đây gọi chung là "Hợp Đồng") với bị đơn là bà Phạm Thị Như Q2.
  • Bị đơn đã hoàn tất các nghĩa vụ thanh toán theo từng giai đoạn được quy định tại Hợp Đồng và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với các dịch vụ hạ tầng, thuế, phí và lệ phí liên quan đến Căn hộ VBC-38-07.
  • Bị đơn đã nhận bàn giao Căn hộ VBC-38-07 theo Biên bản bàn giao căn hộ ngày 14/12/2018. Đồng thời, các bên cũng thực hiện bàn giao theo Biên bản bàn giao căn hộ tham gia chương trình quản lý cho thuê căn hộ ngày 14/12/2018 như thỏa thuận tại Phụ lục 07 và các bản sửa đổi, bổ sung phụ lục 07 (Sau đây gọi chung là “Phụ Lục 07").
  • Công ty V đang trong quá trình thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận theo quy định pháp luật cho bị đơn là bên có quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp Căn hộ VBC-38-07 và sẽ bàn giao Giấy chứng nhận cho bị đơn ngay sau khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ thanh toán 5% Giá Bán theo quy định tại Điều 3.3.a Hợp Đồng.

2. Ý kiến của Công ty V đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cũng như toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết Vụ án

Hiện nay, Công ty V đang là đơn vị quản lý và khai thác cho thuê Căn hộ VBC-38-07 với nội dung và điều kiện được quy định chi tiết tại P 07, do đó Công ty V có ý kiến như sau đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

  • Đề nghị Nguyên đơn/Bị đơn lưu ý tuân thủ nghĩa vụ quy định tại Điều 10.3 Phụ Lục 07 trong trường hợp Căn hộ VBC-38-07 được tiếp thị để bán và được chuyển nhượng, chuyển giao cho bên thứ ba;
  • Các Bên liên quan bao gồm bất kỳ người nào sau đó sở hữu Căn hộ VBC-38-07 cần tuân thủ đúng các nghĩa vụ tại Phụ Lục 07;
  • Đề nghị Quý Tòa đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp khác đối với Công ty V trong suốt quá trình giải quyết Vụ Án.

Trường hợp phải đưa vụ án ra xét xử, kính đề nghị Quý Tòa chấp thuận sự vắng mặt của Công ty V trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nêu trên.

Tại phiên toà:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên các cầu khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan P3 hoàn trả toàn bộ số tiền gốc, lãi còn nợ cho Ngân hàng TMCP K theo Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ đã ký.

Tổng số tiền gốc và lãi phải trả tính đến số tiền tính đến ngày 27/11/2024, trong đó:

+ Nợ gốc: 1.217.365.404 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 122.547.161 đồng
+ Nợ lãi chậm trả: 10.790.150 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 0 đồng
+ Tổng nợ: 1.350.702.715 đồng

Ông Phan, bà Q còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 28/11/2024 theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đã ký cùng các khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

Nếu bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 không trả được số tiền trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể là: Căn hộ số 07, tầng 38 thuộc nhà chung cư (“bất động sản”) và quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu, sử dụng chung của khu căn hộ thuộc Dự án Vinpearl B hoặc một tên gọi khác theo quyết định của Chủ đầu tư (hoặc cơ quan Nhà nước tùy từng thời điểm), số G đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do Công ty cổ phần V làm chủ đầu tư theo hợp đồng mua bán căn hộ số: VBC-38-07/CONDOTEL TRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 5/5/2017 giữa Công ty cổ phần V và bà Nguyễn Thị Như Q.

Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt tại phiên toà.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà có ý kiến:

Về tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Toà án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án có ý thức chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Việc ký kết và thực hiện các Hợp đồng cho vay, hợp đồng thế chấp giữa các bên thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm các nghĩa vụ thanh toán nên phía nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tiền phạt vi phạm hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Hội đồng xét xử nhận thấy việc ký kết Hợp đồng cho vay được thực hiện giữa pháp nhân có đăng ký kinh doanh với cá nhân, các bên ký Hợp đồng cho vay nhằm mục đích mua nhà, phục vụ cuộc sống nên đây là vụ án dân sự. Bị đơn trong vụ án thường trú tại quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người này đều có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Tòa án căn cứ vào khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

2. Về nội dung:

1.1 Xét hợp đồng tín dụng số số: TTC20173065/HĐTD ngày 24/5/2017:

Hội đồng xét xử nhận thấy: ngày 24/5/2017, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 có ký hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD và khế ước nhận nợ ngày 01/6/2017, theo đó, bà Q, ông P2 vay Ngân hàng TMCP K số tiền: 1.967.365.404 đồng. Thời hạn vay: 240 tháng. Mục đích vay: Mua nhà dự án Vinpearl Condotel T.

Xét thấy, hợp đồng tín dụng được hai bên ký kết tự nguyện, các bên có đủ tư cách pháp nhân và năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực pháp luật và phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Q, ông P2 đã trả cho Ngân hàng 750.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ: 1.217.365.404 đồng tiền gốc. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về phần nợ gốc là có căn cứ.

Về lãi suất: hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD và khế ước nhận nợ ngày 01/6/2017 các bên có thoả thuận: các kỳ hạn trả nợ: bên vay phải thực hiện trả gốc cho T1 trong vòng 38 kỳ( 6 tháng/ kỳ) vào các ngày 26/12 và 26/6 hàng năm, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 26/12/2018. Lãi suất cho vay: + Giai đoạn 1: Lãi suất từ ngày 1/6/2017 đến 1/6/2018 lãi suất cố định là 7,25%/năm. Giai đoạn 2: từ ngày hết giai đoạn 1 đến 1/6/2037 lãi suất được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi suất cơ sở Bất động sản V1 (+) Biên độ 3,5%/ năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T1 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng với từng đối tượng khách hàng.( giải thích không áp dụng giai đoạn 2). Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Thoả thuận về mức lãi suất là tự nguyện, phù hợp với các quyết định điều chỉnh mức lãi suất của Ngân hàng và điều 280, 357, 466, 468 BLDS 2015, điều 91,95 Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên việc Ngân hàng yêu cầu ông P2, bà Q thanh toán tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả là đúng quy định và được chấp nhận. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Q, ông Phan vi P4 nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng và chịu mức lãi suất quá hạn. Bị đơn không có ý kiến về phần tiền gốc, lãi suất nên Hội đồng xét xử xác định số tiền bị đơn còn nợ Ngân hàng theo trình bày của nguyên đơn. Tổng số tiền gốc và lãi phải trả tính đến ngày 27/11/2024 là:

+ Nợ gôc: 1.217.365.404 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 122.547.161 đồng
+ Nợ lãi chậm trả: 10.790.150 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 0 đồng
+ Tổng nợ: 1.350.702.715 đồng

Kể từ ngày 28/11/2024, ông P2, bà Q còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền nợ gốc chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay cùng khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết, tương ứng với thời gian chậm trả.

Đối với số tiền phạt vi phạm hợp đồng, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện nên đình chỉ xét xử với yêu cầu này.

1.2. Xét Hợp đồng thế chấp quyền tài sản, văn bản thoả thuân 03 bên thấy:

Để đảm bảo cho khoản vay tại T1, bà Q, ông P2 đã thế chấp toàn bộ quyền tài sản thuộc sở hữu của mình phát sinh từ hợp đồng mua bán căn hộ số: VBC-38-07/CONDOTEL TRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 5/5/2017 giữa Công ty cổ phần V và bà Nguyễn Thị Như Q . Tài sản thế chấp đã đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm ngày 01/6/2017 tại Cục Đ.

Xét thấy, hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành với các bên.

Ngày 28/10/2024, Công ty cổ phần V có văn bản gửi Toà án như sau: Công ty V đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số VBC-38-7/CONDOTEL TRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 05/05/2017 và các phụ lục bản sửa đổi bổ sung đính kèm (Sau đây gọi chung là "Hợp Đồng") với bị đơn là bà Phạm Thị Như Q2. Ông P2, bà Q2 đã hoàn tất các nghĩa vụ thanh toán theo từng giai đoạn được quy định tại Hợp Đồng và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với các dịch vụ hạ tầng, thuế, phí và lệ phí liên quan đến Căn hộ VBC-38-07. Ông P2, bà Q2 đã nhận bàn giao Căn hộ VBC-38-07 theo Biên bản bàn giao căn hộ ngày 14/12/2018. Đồng thời, các bên cũng thực hiện bàn giao theo Biên bản bàn giao căn hộ tham gia chương trình quản lý cho thuê căn hộ ngày 14/12/2018 như thỏa thuận tại Phụ lục 07 và các bản sửa đổi, bổ sung phụ lục 07 (Sau đây gọi chung là “Phụ Lục 07"). Công ty V đang trong quá trình thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận theo quy định pháp luật cho bị đơn là bên có quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp Căn hộ VBC-38-07 và sẽ bàn giao Giấy chứng nhận cho bị đơn ngay sau khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ thanh toán 5% Giá Bán theo quy định tại Điều 3.3.a Hợp Đồng.

Tại Biên bản xem xét thẩm định ngày 13/9/2024, Toà án nhân dân thành phố Nha Trang xác định: căn hộ số G, tầng 38 thuộc dự án Vinpearl Beachfront condotel hiện nay chính là căn hộ số 3912 thuộc dự án V Beachfront condotel. Tại thời điểm xem xét, căn hộ không có người ở.

Tại khoản 2.1 điều 2 Hợp đồng thế chấp, các bên thoả thuận: Bên thế chấp đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản thế chấp quy định tại hợp đồng này để bảo đảm cho toàn bộ các nghĩa vụ của bên được bảo đảm quy định tại khoản 2.2 điều này đối với T1 theo hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm...

Tại điểm a khoản 8.1, điểm a khoản 8.2 điều 8 của hợp đồng thế chấp về xử lý tài sản thế chấp, các bên đã thoả thuận: tài sản thế chấp sẽ được xử lý khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên được bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; T1 được quyền quyết định trực tiếp quản lý, thu giữ bất động sản khi xảy ra các trường hợp quy định tại khoản 8.1 điều này...

Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là: Căn hộ số 07, tầng 38 thuộc nhà chung cư (“bất động sản”) và quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu, sử dụng chung của khu căn hộ thuộc Dự án Vinpearl B hoặc một tên gọi khác theo quyết định của Chủ đầu tư (hoặc cơ quan Nhà nước tùy từng thời điểm), số G đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do Công ty cổ phần V làm chủ đầu tư khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và được chấp nhận.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần V2 không có yêu cầu độc lập với nguyên đơn, ông Nguyễn P2, bà Nguyễn Thị Như Q không có yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét.

3. Về án phí: Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 280, 357, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015
  • - Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan

Buộc bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD ngày 24/5/2017 và khế ước nhận nợ số TTC20173065 01 ngày 01/6/2017 tính đến ngày 27/11/2024 là:

+ Nợ gốc: 1.217.365.404 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 122.547.161 đồng
+ Nợ lãi chậm trả: 10.790.150 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 0 đồng
+ Tổng nợ: 1.350.702.715 đồng

2. Kể từ ngày 28/11/2024, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Phan C2 phải chịu tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: TTC20173065/HĐTD ngày 24/5/2017 và khế ước nhận nợ số TTC20173065 01 ngày 01/6/2017 với Ngân hàng K cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Nguyễn P2 và bà Nguyễn Thị Như Q về việc trả tiền phạt vi phạm hợp đồng.

3. Trường hợp bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm là: căn hộ S, tầng 38 thuộc nhà chung cư (“bất động sản”) và quyền sử dụng các phần diện tích và thiết bị thuộc sở hữu, sử dụng chung của khu căn hộ thuộc Dự án Vinpearl B hoặc một tên gọi khác theo quyết định của Chủ đầu tư (hoặc cơ quan Nhà nước tùy từng thời điểm), số G đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do Công ty cổ phần V làm chủ đầu tư theo hợp đồng mua bán căn hộ số: VBC-38-07/CONDOTEL TRẦN PHÚ/HĐMBCH ngày 5/5/2017 giữa Công ty cổ phần V và bà Nguyễn Thị Như Q để thu hồi toàn bộ khoản nợ nêu trên.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 đối với Ngân hàng TMCP K. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ, bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho T1.

4. Về án phí: bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn P2 phải chịu 52.521.081 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 25.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 0011446 ngày 22/4/2024.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Cúc

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Hoàng Mai;
  • - Chi cục thi hành án dân sự Q, Hoàng Mai
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/DS- ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 79/2024/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam đối với bà Nguyễn Thị Như Quỳnh và ông Nguyễn Phan
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger