|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/DS-ST Ngày: 22-11-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Võ
Ông Trần Văn Nước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2023/TLST-DS, ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Mộng N, sinh năm 1960; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Bà Dương Thị C, sinh năm 1963; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
(Bà Dương Thị C ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị Hòa B, sinh năm 1963;
- Anh Lâm Bảo T1, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
(Bà Trương Thị Hòa B và anh Lâm Bảo T1 ủy quyền cho ông Lâm Mộng N theo văn bản ủy quyền ngày 01/4/2024)
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Chị Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1983; (có mặt)
- Anh Lê Văn H1, sinh năm 1978; (có mặt)
Cùng địa chỉ: Khóm P, Phường A, thị xã D, Trà Vinh.
- Ngân hàng N2 (A).
Trụ sở chính: Số B L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Lâm Hoàng T2 - Giám đốc A chi nhánh thị xã D. (xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20/7/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/7/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lâm Mộng N trình bày:
* Đối với thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (sau đây gọi tắt là thửa 345), ông Nguyên K có nguồn gốc trước đây do nhận chuyển nhượng lại từ ông Dương Hoàng K1 vào năm 2003. Khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất này thì ông K1, cán bộ địa chính xã D là ông Võ Văn P và một cán bộ địa chính của huyện D tên là T3 có ra thực địa để xác định ranh và có cặm 02 cây trụ đá, 01 cây ở đầu ngoài giáp lộ, cách bức tường của ông qua đất của bà C khoảng 01 mét mấy và 01 cây trụ ở đầu trong. Như vậy thì khi bà C xây căn nhà ở ngoài lộ thì bà C mới nhổ cây trụ đá, lúc đó ông có nói với bà C sao xây nhà gì kỳ vậy thì bà C nói là do thợ làm còn bà thì đi ghe nên không biết. Thời điểm ông nhận chuyển nhượng thì giáp với thửa 345 là thửa đất 346 của cha mẹ bà C, sau này cha mẹ bà C chết thì mới chia ra cho các người con. Theo ông thì thời điểm chị H là con gái bà C xây dựng quán K3 thì ông có đứng ra tranh chấp với gia đình bà C nên có kêu địa chính ra đo nhưng khi địa chính xã đo thì hai bên lại cự cãi với nhau, rồi cũng không giải quyết được vấn đề gì, từ từ rồi gia đình bà C cũng xây dựng xong căn nhà cấp 4 và quán K3. Đối với bức tường xây bằng gạch ống thì ông N thừa nhận là do ông xây dựng lên nhưng ông cho rằng đây không phải là ranh giới, mà ranh giới còn từ bức tường này kéo sang đất của bà C thêm khoảng 02 mét nữa.
Nay ông yêu cầu bà C, ông T, chị H và anh H1 phải tháo dỡ căn nhà và quán K3 để trả lại cho ông phần đất có diện tích 161,7m² thuộc thửa đất số thửa 345 do hộ ông Lâm Mộng N đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Đối với thửa đất số 284, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (sau đây gọi tắt là thửa 284), thửa đất này có nguồn gốc cũng do ông nhận chuyển nhượng lại từ ông Lâm Văn B1, cùng thời điểm với thửa 345. Giáp ranh với thửa 284 là thửa đất 283 của bà Dương Thị C. Giữa ông với bà C cũng đã tranh chấp với nhau đối với ranh đất giữa 02 thửa đất này từ lâu, hai bên cứ lấn cấn với nhau về cái bờ ranh. Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì toàn bộ cái bờ này và phần mương nước (do bà C sử dụng) đều nằm trong thửa đất số 284 của ông, ông cũng thống nhất với kết quả đo đạc này, thống nhất đường mương này do gia đình bà C sử dụng, trước đó thì nguyên cái bờ là của ông sử dụng rất rộng, xe cuốc qua lại được, nhưng đã bị mương nước của bà C xói lở từ từ qua phía bờ đất này. Nay ông yêu cầu bà C và ông T trả lại toàn bộ cái bờ và phần mương thoát nước với tổng diện tích là 381,7m²
* Đối với cạnh hướng Nam của thửa 284 giáp với đường ống dẫn nước thô, thì phần đất tranh chấp này cũng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông, trước đó hai bên cũng không có tranh chấp gì. Nay ông yêu cầu bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T phải trả lại diện tích đất là 141,7m² thuộc thửa đất số 284.
- Bị đơn bà Dương Thị C có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N. Thửa đất 346 tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (sau đây gọi tắt là thửa 346) do bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc thửa đất này là của cha mẹ của bà là ông Dương Văn K2 và bà Huỳnh Thị N1. Bà đã ở trên thửa đất này từ khi còn nhỏ đến lúc lấy chồng, đến khi cha mẹ chết (mẹ chết năm 1998, cha chết năm 2002) thì để lại thửa đất này cho bà, đến năm 2006 thì bà được cấp giấy chứng nhận. Đối với phần ranh giới giữa thửa 345 của ông N với thửa 346 của bà thì phần ranh giới này từ trước đến nay vẫn ổn định, không có tranh chấp gì. Ranh giới trước đây là có cây trụ đá nằm ngay vị trí bức tường ở giáp lộ, ông N có làm hàng dây chì gai kéo đến khu mộ, qua khu mộ ông N làm tiếp một đoạn hàng rào chì gai đến cuối đất, sau này chính ông N là người dỡ đoạn chì gai ra và xây lên 02 bức tường như hiện nay. Khi gia đình bà xây dựng căn nhà cấp 4 và quán K3 thì ông N cũng không có tranh chấp gì, vợ chồng chị H kinh doanh quán K3 đến 06 năm mới ngưng hoạt động, không những vậy sau khi vợ chồng chị H ngưng kinh doanh thì ông N còn qua thuê quán Karaoke để tiếp tục kinh doanh tiếp khoảng 01 năm nữa mới trả lại. Ngoài ra trên phần đất tranh chấp còn có 04 ngôi mộ của ông bà bên gia đình của bà, hai bên cũng không có ranh chấp gì về việc thăm, chăm sóc những ngôi mộ này. Việc đất tranh chấp do gia đình bà sử dụng từ trước đến nay nhưng lại nằm trong thửa 345 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N thì bà nghĩ là do thời điểm cấp giấy là do tư liệu cũ, không chính xác giữa diện tích trong giấy chứng nhận với hiện trạng. Do đó bà không đồng ý trả lại diện tích 161,7m² theo yêu cầu của ông N. Đối với yêu cầu của ông N về diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa 284 của ông N thì bà cũng không đồng ý trả.
- Ông Nguyễn Văn T, anh Lê Văn H1 và chị Nguyễn Thị Như H thống nhất với ý kiến của bà C, không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn Lâm Mộng N: Đối với ranh giới thửa đất 283 và 284, đề nghị giao cho ông N phần đất có diện tích 347,2m² (phần đất có ký hiệu là A, C và D trên sơ đồ khu đất), giao cho bà Chiều phần đất diện tích 176,2m² (phần đất có ký hiệu B trên sơ đồ khu đất). Đối với ranh giới giữa thửa 345 và 346, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông N, đề nghị giao diện tích đất 161,7m² cho gia đình bà Dương Thị C tiếp tục sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục ủy quyền: Ngày 21/10/2024 ông Nguyễn Văn T đã ủy quyền cho bà Dương Thị C tại Tòa án. Tại phiên tòa hôm nay bà Dương Thị C đã ủy quyền lại cho ông Nguyễn Văn T. Xét thấy việc chấm dứt ủy quyền và ủy quyền lại giữa bà C và ông T là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Xét yêu cầu của ông Lâm Mộng N về ranh giới giữa thửa 345 và 346: Xét thấy: Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã D thể hiện diện tích đất tranh chấp là 161,7m² thuộc thửa đất số 345, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, do Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ ông Lâm Mộng N. Theo hướng từ Lộ 51B trở vào trong thể hiện diện tích đất tranh chấp ở phần C tại sơ đồ khu đất nằm toàn bộ trong thửa 345 của hộ ông Lâm Mộng N, tuy nhiên phần C này trên thực địa có một bức tường do ông Lâm Mộng N xây dựng, từ phía bức tường kéo qua bên phải 02 mét là căn nhà của gia đình bà Dương Thị C được xây dựng từ năm 2010, căn nhà này được gia đình bà C xây dựng trước, sau đó ông N mới xây bức tường bên cạnh (có hình ảnh kèm theo). Theo bà C thì bức tường do ông N xây dựng trên ranh đất thực tế từ trước đến nay, khi gia đình bà C xây căn nhà này hai bên không có tranh chấp gì, sau đó ông N mới xây bức tường lên. Trên phần B của đất tranh chấp diện tích 19,1m² nằm trong thửa 345 của hộ ông Lâm Mộng N nhưng thực địa lại có 04 ngôi mộ của ông, bà trong gia đình bà C. Trên phần A của đất tranh chấp diện tích 82,9m² cũng nằm trong thửa 345 của hộ ông Lâm Mộng N, trên thực địa không có trụ ranh nhưng có một đoạn bức tường bằng gạch ống do tự ông N xây dựng, từ bức tường này kéo qua bên trái khoảng 02 mét (nhìn từ trong ra Lộ E) là đất tranh chấp có cây lâu năm như 01 cây dừa, 01 cây mù u và 01 bụi tre mọc tự nhiên do gia đình bà C sử dụng, còn từ bức tường kéo sang phải là đất của ông N đang sử dụng, có sự phân biệt rạch ròi ranh giới đất của hai bên. Ngoài ra trong diện tích 82,9m² còn có một phần quán Karaoke Sao Vàng của vợ chồng chị H, anh H1 xây dựng năm 2010 và hoạt động liên tục trong 06 năm không có tranh chấp gì. Như vậy có thể thấy rằng mặc dù toàn bộ diện tích đất tranh chấp 161,7m² đều nằm trong thửa đất số 345 của hộ ông Lâm Mộng N, nhưng trên thực tế từ khi ông N nhận chuyển nhượng thửa 345 của ông Dương Hoàng K1 thì ông N chưa từng sử dụng phần đất 161,7m² này, mà vẫn do gia đình bà C sử dụng ổn định. Ông N cho rằng đất có tranh chấp từ khi gia đình bà C xây dựng nhà cấp 4 và quán Karaoke nhưng ông N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho vấn đề này, hoặc kết quả giải quyết tranh chấp của cơ quan có thẩm quyền. Trong khi đó ông N cũng thừa nhận rằng 02 đoạn bức tường là do ông xây dựng, trước đó là hàng rào bằng dây chì kẽm gai, ông N cũng thừa nhận sau khi vợ chồng chị H ngừng kinh doanh quán K3 thì ông đã thuê lại quán Karaoke này để cho con trai ông là anh Lâm Bảo T1 tiếp tục kinh doanh.
[3] Mặc khác, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được, Ủy ban nhân dân thị xã D có ý kiến tại Công văn số 3175/UBND-NC ngày 03/10/2024 như sau: Đối với tư liệu địa chính năm 1996 (hoàn thành phê duyệt năm 1998), tại ranh giới thửa đất số 345, 346, 283, 284, tờ bản đồ số 5 trong thực hiện đo đạc bản đồ, thành lập hồ sơ địa chính năm 1996, phương pháp lập bản đồ địa chính sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa để lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 trên toàn khu vực xã D. Khu vực thửa đất 345, 346, 283, 284 và toàn bộ khu vực đất nằm trong phạm vi tờ không ảnh phục vụ đo vẽ không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật; kết quả đo thực tế và tư liệu đo đạc năm 1998 cho thấy ảnh bị “dạt”, “lệch” theo phương ngang dẫn đến việc sai lệch về vị trí và kích thước trong ảnh so với thực địa; khi đo đạc trực tiếp, đơn vị đo đạc không đo kiểm tra thực tế, điều tra, đánh giá thực địa nên khi scan, vẽ vào bản đồ địa chính dẫn đến sai sót. Đối với loại sai sót này không thể căn cứ vào tư liệu địa chính để xác định ranh giới sử dụng đất của các bên và Ủy ban nhân dân thị xã D xác định trường hợp cấp giấy theo tư liệu địa chính năm 1998 đối với thửa đất số 345, 346, thửa 283, 284 là chưa bảo đảm về vị trí, kích thước và diện tích.
[4] Từ những cơ sở phân tích nêu trên, có căn cứ cho rằng diện tích đất tranh chấp 161,7m² nằm trong thửa 345 của hộ ông Lâm Mộng N nhưng thực tế do gia đình bà C sử dụng, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 345 cho hộ ông Lâm Mộng N là chưa đảm bảo về vị trí, kích thước và diện tích, do đó ông N yêu cầu gia đình bà C phải tháo dỡ các công trình để trả lại diện tích đất 161,7m² là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu của ông Lâm Mộng N đối với diện tích đất tranh chấp 523,4m² thuộc thửa đất số 284, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh:
[5.1] Đối với phần đất tranh chấp 141,7m² giáp với đường ống dẫn nước thô, kết quả đo đạc thể hiện toàn bộ diện tích 141,7m² tại phần C và D trên sơ đồ khu đất đều thuộc thửa 284 của hộ ông Lâm Mộng N, thực địa trên phần đất này không có công trình gì mà chỉ là cây tạp, các đương sự cũng thống nhất khi nhà nước thu đất để làm đường ống dẫn nước thô thì một phần của đất được thu hồi nằm phía ngoài phần đất tranh chấp cũng thuộc vào thửa 284 của ông N, ông N là người nhận tiền bồi thường, thời điểm này hai bên cũng không có tranh chấp gì, như vậy có căn cứ xác định phần đất tranh chấp 141,7m² nằm phía trong phần đất được thu hồi là thuộc quyền sử dụng của ông Lâm Mộng N, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận giao phần đất có diện tích 141,7m² thuộc thửa đất số 284 cho hộ ông Lâm Mộng N sử dụng.
[5.2] Đối với phần ranh giữa thửa 284 và thửa 283: Kết quả đo đạc thể hiện đất tranh chấp gồm phần A diện tích 205,5m² và phần B diện tích 176,2m² đều nằm trong thửa 284 của hộ ông Lâm Mộng N. Khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ phía ông N chỉ ranh, cho rằng toàn bộ cái bờ đất (phần A, đoạn 7-8 trên sơ đồ kéo qua thửa 284) là của ông, ranh giới đất giữa hai bên là đến mép bờ (có hình ảnh kèm theo), còn phía bà C cho rằng ranh giới giữa hai bên là đoạn 4-5-6 trên sơ đồ, tương ứng trên thực địa là vị trí của hàng rào lưới mùng. Như vậy, theo kết quả đo đạc thể hiện đất của ông N còn nằm từ đoạn 7-8 kéo qua bên thửa 283 một phần diện tích là 176,2m² (phần B trong sơ đồ), trên thực tế phần B này là đường thoát nước của gia đình bà C sử dụng từ trước đến nay. Quá trình giải quyết vụ án bà C cũng thừa nhận bà không đi trên cái bờ này (phần A) mà đi phía bờ bên kia của thửa 283, còn phần đường nước là phần B nằm trong thửa 284 của ông N nhưng ông N cũng thừa nhận trước giờ do bà C sử dụng đường mương này để thoát nước. Ông N cho rằng trước đây cái bờ đất rất rộng, nhưng thời gian dài bị đường mương thoát nước của bà C lở dần dần qua thửa 284 của ông nhưng ông không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh cho vấn đề này. Cùng với ý kiến của Ủy ban nhân dân thị xã D tại Công văn số 3175 nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định xác định ranh giới đất của hộ ông Lâm Mộng N với đất của bà Dương Thị C theo hiện trạng sử dụng, giao toàn bộ phần bờ ao trên thực địa, là phần A trên sơ đồ khu đất với diện tích 205,5m² cho hộ ông Lâm Mộng N tiếp tục sử dụng, giao phần B có diện tích 176,2m² cho bà C, ông T tiếp tục sử dụng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông N, bà C và ông T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về chi phí tố tụng, ông Lâm Mộng N và bà Dương Thị Chiều C, ông Nguyễn Văn T phải chịu chi phí tố tụng tương ứng với tỉ lệ diện tích đất được chấp nhận và không được chấp nhận, cụ thể như sau:
[8] Tổng chi phí tố tụng trong vụ án này là: 8.843.000 đồng, do ông N đã nộp tạm ứng trước chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng nên ông N được nhận lại số tiền còn thừa là 1.157.000 đồng sau khi xét xử sơ thẩm.
[9] Diện tích đất ông N được chấp nhận là 141,7 + 205,5 = 347,2m², so với tổng diện tích đất ông N yêu cầu là 685,1m², chiếm tỉ lệ 50%, nên bà C và ông T phải chịu chi phí tố tụng là 4.421.500 đồng, do ông N đã tạm ứng trước nên bà C và ông T phải có nghĩa vụ trả lại cho ông N số tiền 4.421.500 đồng. Ông N phải chịu chi phí tố tụng đối với diện tích đất không được chấp nhận là 4.421.500 đồng (ông N không phải nộp thêm).
[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 26 của Luật Đất đai năm 2024;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Mộng N.
Bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T phải giao lại cho hộ ông Lâm Mộng N phần đất có diện tích 347,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, là các phần có ký hiệu A, C và D trên Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 212/CNTXDH ngày 31/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D.
Giao cho bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 176,2m² thuộc thửa đất 284, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, là phần có ký hiệu B trên Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 212/CNTXDH ngày 31/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D. Bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất được giao.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Mộng N về việc yêu cầu bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Như H và anh Lê Văn H1 tháo dỡ công trình để trả lại diện tích đất 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Giao cho bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Như H và anh Lê Văn H1 được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 161,7m² thuộc thửa đất 345, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, là các phần đất có ký hiệu A, B và C trên Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 213/CNTXDH ngày 31/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D. Bà Dương Thị C, ông Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Như H và anh Lê Văn H1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất được giao.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lâm Mộng N, bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T.
- Về chi phí tố tụng: Bà Dương Thị C và ông Nguyễn Văn T phải trả lại cho ông Lâm Mộng N số tiền 4.421.500 đồng. Ông Lâm Mộng N được nhận lại số tiền là 1.157.000 đồng tại Văn phòng Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Văn Nước Dương Quốc Võ |
Nguyễn Hữu Tài |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ranh đất
