Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/DS-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tuấn Em

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Thiện Đào Duyên
  • Bà Nguyễn Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Hoàng Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2024/TLST-DS ngày 12/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-DS ngày 18/7/2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 93/2024/QĐST-DS ngày 06/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K.

    Địa chỉ: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh K.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trương Phước Đ – chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ khu vực –Phòng Xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần K.

    Là đại diện hợp pháp theo ủy quyền nguyên đơn (theo quyết định ủy quyền số 887C/QĐ-NHKL ngày 04/4/2024).

  2. Bị đơn: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, TP ., Đ.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn anh Trương Phước Đ có mặt, bị đơn anh Lê Thanh T vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng, ông Trương Phước Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K trình bày:

Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là “Ngân hàng”) và anh Lê Thanh T có hợp đồng cấp thẻ tín dụng vay tiền cụ thể:

Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ Tín dụng quốc tế KIEN L số: 20019360000190/2944.5593 ngày 17/12/2019. Hạn mức thẻ: 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), Lãi suất vay trong hạn: 28%/năm (2,33%/tháng). Thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay tiền tiêu dùng, kỳ hạn thanh toán ngày 05 tây hàng tháng. Mức lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ, phí phạt chậm trả 3,5% x số tiền chậm trả/365 ngày. Phí phạt vượt hạn mức: 0,075% x số tiền vượt hạn mức.

Qúa trình sử dụng dịch vụ thẻ anh T đã vi phạm hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng vẫn không thanh toán cho Ngân hàng. Anh T đã vi phạm quy định sử dụng thẻ, đóng không đủ số dư tối thiểu vào ngày 05 tây hàng tháng theo thoả thuận. Do đó, từ ngày 05/6/2020 Ngân hàng đã chuyển vốn mà anh T vay sang nợ quá hạn. Ngày 04/5/2020 là ngày anh T trả vốn, lãi cuối cùng, ngày trả phí cuối cùng là ngày 07/6/2023.

Tạm tính đến ngày 10/01/2024, anh T đã thực hiện giao dịch với số vốn là 29.849.000đ, đã thanh toán vốn: 1.035.113đ, anh T còn nợ Ngân hàng các khoản sau:

  • Nợ vốn: 28.813.887đồng.
  • Lãi: 25.212.950đồng.
  • Phí phạt chậm trả: 10.206.532đồng.
  • Phí vượt hạn mức: 1.400.000 đồng.

Nay ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu anh Lê Thanh T trả cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/01/2024 là 65.633.369 đồng (Sáu mươi lăm triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 28.813.887 đồng, lãi phát sinh 25.212.950 đồng, phí phát sinh 11.806.532 đồng và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/01/2024 theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/12/2019 cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

Ngoài ra, Ngân hàng TMCP K không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Lê Thanh T:

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã ra tống đạt hợp lệ (niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo cung cấp ý kiến và tài liệu chứng cứ và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà Lê Thanh T1 không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng anh N không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc anh Lê Thanh T trả số tiền vốn vay còn nợ là 28.813.887 đồng, lãi phát sinh 25.212.950 đồng, phí phát sinh 11.806.532 đồng và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/01/2024 theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/12/2019 cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xet xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vay, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S, Đ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo quy định.

[3]. Về nội dung tranh chấp:

[3.1]. Hội đồng xét xử xét thấy: Về trình tự thủ tục và nội dung xác lập hợp đồng tín dụng tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ Tín dụng quốc tế KIEN L số: 20019360000190/2944.5593 ngày 17/12/2019 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP K và bên vay là anh Lê Thanh T là phù hợp với quy định của pháp luật, được công nhận, có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[3.2]. Trong quá trình thực hiện Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ Tín dụng quốc tế KIEN L số: 20019360000190/2944.5593 ngày 17/12/2019, anh T đã vi phạm hợp đồng chưa trả đầy đủ vốn và lãi cho Ngân hàng theo như Hợp đồng đã ký kết. Tại phiên tòa, phía nguyên đơn yêu cầu anh Lê Thanh T trả cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/01/2024 là 65.633.369 đồng (Sáu mươi lăm triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 28.813.887 đồng, lãi phát sinh 25.212.950 đồng, phí phát sinh 11.806.532 đồng và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/01/2024 theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/12/2019 cho đến ngày thanh toán dứt nợ là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

[3.3]. Đối với bị đơn anh Lê Thanh T thì căn cứ kết quả xác minh của Công an xã T và T Ấp P, xã T, thành phố S thì anh Lê Thanh T có đăng ký thường trú tại địa chỉ số D, ấp P, xã T, thành phố S, hiện anh T có mặt và cư trú tại số D, ấp P, xã T, thành phố S. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã ra tống đạt hợp lệ (niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo cung cấp ý kiến và tài liệu chứng cứ và các văn bản tố tụng hợp lệ tại đúng địa chỉ của bị đơn anh Lê Thanh T nhưng anh T không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc, cũng như không đến tham dự phiên tòa.

[3.4]. Từ những căn cứ trên, buộc anh Lê Thanh T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn và tiền lãi tạm tính đến ngày 10/01/2024 là 65.633.369 đồng (Sáu mươi lăm triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 28.813.887 đồng, lãi phát sinh 25.212.950 đồng, phí phát sinh 11.806.532 đồng và tiếp tục chịu tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/01/2024 theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/12/2019 cho đến khi trả nợ xong.

[4]. Đối với ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên anh T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.

    Buộc anh Lê Thanh T trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm tính đến ngày 10/01/2024 là 65.633.369 đồng (Sáu mươi lăm triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 28.813.887 đồng, lãi phát sinh 25.212.950 đồng, phí phát sinh 11.806.532 đồng và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/01/2024 theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/12/2019 cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong Hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP K thì lãi suất mà anh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP K.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Anh Lê Thanh T 3.281.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.646.000 đồng theo biên lai số 0004119 ngày 11/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Tuấn Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 79/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger