Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/DS-ST

Ngày: 20-9-2024

“V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Ngọc Thơm.
  2. Ông Võ Thanh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 72/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QÐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim M, sinh năm: 1967; (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Luật sư Phan Thanh H – Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh B; (Có mặt)

- Bị đơn:

  1. Ông Trường Trọng T, sinh năm: 1985; (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Tổ D, khu phố B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương;

  3. Ông Trương Trọng T1, sinh năm: 1989; (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số A, đường P, phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2023, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Kim M trình bày:

Bà Lê Thị Kim M và ông Trương Văn P là vợ chồng, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H vào ngày 25/4/2008. Trong thời kỳ hôn nhân, hai người không có con chung. Trước khi kết hôn với bà M, ông P đã có vợ và đã ly hôn. Ông P có hai con chung với người vợ trước là ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1. Trong thời gian chung sống, bà M và ông P có tạo lập tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 554a, tờ bản đồ số 01, diện tích 253m², tọa lạc tại xã T, huyện H (nay là khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận), được chứng nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động ngày 13/10/2017. Trên đất có một căn nhà cấp 4 với diện tích 100m² (ngang 5m x dài 20m), xây dựng năm 2017. Ngày 18/8/2020, ông Trương Văn P qua đời mà không để lại di chúc. Do đó, phần quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản của ông P trong khối tài sản chung sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà Lê Thị Kim M, ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1 (cha của ông P, ông Trương Khắc T3, đã mất ngày 26/01/2020; mẹ của ông P, bà Phan Thị L, đã mất ngày 27/02/2017). Sau khi ông P qua đời, bà M đã nhiều lần yêu cầu ông T2 và ông T1 làm thủ tục phân chia di sản thừa kế do ông P để lại. Tuy nhiên, ông T2 và ông T1 cho rằng tài sản này thuộc riêng ông P, không liên quan đến bà M, nên không đồng ý phân chia. Vì vậy, bà M yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận giải quyết các vấn đề sau:

Phân chia tài sản chung vợ chồng:

Bà M yêu cầu phân chia tài sản chung của bà và ông P là quyền sử dụng thửa đất số 554a, tờ bản đồ số 01, diện tích 253m², và căn nhà cấp 4 với diện tích 100m². Tổng giá trị tài sản hiện nay là khoảng 800.000.000 đồng. Bà M yêu cầu được phân chia ½ tài sản, tương đương 400.000.000 đồng.

Phân chia di sản thừa kế của ông Trương Văn P:

Bà M yêu cầu chia di sản thừa kế của ông P, bao gồm ½ giá trị nhà và đất (tương đương 400.000.000 đồng). Bà M yêu cầu được nhận 1/3 tài sản thừa kế, tương đương 133.333.333 đồng và đồng ý thanh toán phần tài sản cho các đồng thừa kế khác.

Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bà M cũng thống nhất giá trị tài sản theo Hội đồng định giá như sau: Giá trị thửa đất số 554a, tờ bản đồ số 01, diện tích 253m² là 1.549.878.000 đồng. Giá trị tài sản gắn liền với thửa đất (bao gồm căn nhà cấp 4A và mái che) là 388.608.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung của bà M và ông P là 1.938.486.000 đồng.

Bà M xác định lại yêu cầu được nhận ½ giá trị tài sản chung, tức 969.243.000 đồng. Đối với phần di sản của ông P, bà M yêu cầu chia đều giữa bà M, ông T2 và ông T1, mỗi người nhận 1/3 của 969.243.000 đồng, tương đương 323.081.000 đồng mỗi người. Cuối cùng, bà M yêu cầu được nhận hiện vật để sử dụng và sẵn sàng thanh toán giá trị tài sản cho các đồng thừa kế khác.

* Bị đơn ông Trương Trọng T2 trình bày:

Ông Trương Trọng T2 xác nhận rằng ông Trương Văn P là cha của ông và ông Trương Trọng T1, đồng thời là chồng hợp pháp của bà Lê Thị Kim M. Ông T2 thừa nhận rằng thửa đất cùng toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887, do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004 và cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P vào ngày 13/10/2017, là tài sản chung của ông P và bà M. Ông T2 đã được tiếp cận với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2023, Biên bản định giá ngày 01/12/2023, và Sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 05/7/2024. Ông T2 thống nhất với giá trị thị trường của thửa đất và tài sản gắn liền trên đất, không có ý kiến phản đối gì. Ông cũng đồng ý với ý kiến của bà M về việc giải quyết vụ án, vì ông xác nhận rằng thửa đất là tài sản chung của ông P và bà M. Ông T2 đồng ý với yêu cầu chia ½ giá trị tài sản chung, tương đương 969.243.000 đồng. Vì ông P qua đời mà không để lại di chúc, ông T2 đồng ý với đề nghị của bà M về việc chia phần di sản thừa kế còn lại của ông P thành ba phần, mỗi người hưởng một phần, tức mỗi người sẽ nhận 323.081.000 đồng. Tuy nhiên, đối với yêu cầu của bà M về việc nhận hiện vật, ông T2 không đồng ý. Thay vào đó, ông T2 và ông Trương Trọng T1 yêu cầu được nhận hiện vật và sẽ hoàn lại giá trị tương ứng cho bà M.

* Bị đơn ông Trương Trọng T1 trình bày:

Ông Trương Trọng T1 đồng ý với ý kiến của ông Trương Trọng T2 về việc xác nhận ông Trương Văn P là cha của ông và ông T2, đồng thời là chồng hợp pháp của bà Lê Thị Kim M. Ông T1 xác nhận rằng thửa đất cùng toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887, do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004 và cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017, là tài sản chung của ông P và bà M. Ông T1 đã được tiếp cận với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2023, Biên bản định giá ngày 01/12/2023 và Sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 05/7/2024. Ông T1 thống nhất với giá trị thị trường của thửa đất và tài sản gắn liền trên đất, không có ý kiến phản đối gì. Về phương án giải quyết vụ án của bà M, ông T1 đồng ý với ông T2 rằng thửa đất là tài sản chung của ông P và bà M, do đó, yêu cầu chia ½ giá trị tài sản chung, tương đương 969.243.000 đồng, là hợp lý và ông T1 đồng ý. Do ông P qua đời mà không để lại di chúc, ông T1 đồng thuận với đề nghị của bà M về việc chia phần di sản thừa kế còn lại của ông P thành ba phần bằng nhau, mỗi người sẽ nhận 323.081.000 đồng. Thay vào đó, ông T1 và ông Trương Trọng T2 yêu cầu được nhận hiện vật và sẽ hoàn lại giá trị tương ứng cho bà M.

* Ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Phan Thanh H trình bày:

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể:

  • - Xác định thửa đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động lần cuối chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017 là tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M.
  • - Phân chia giá trị tài sản chung của ông P và bà M, mỗi người được hưởng ½ giá trị tài sản chung. Cụ thể, bà M được hưởng 969.243.000 đồng.
  • - Xác định ½ giá trị tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M là di sản thừa kế của ông Trương Văn P. Phân chia di sản thừa kế của ông Trương Văn P: Bà Lê Thị Kim M, ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1 mỗi người được hưởng giá trị di sản thừa kế của ông P là 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
  • - Vì bà M hiện tại là người trực tiếp sử dụng thửa đất và có phần nhiều hơn trong khối tài sản chung, nên đề nghị giao toàn bộ tài sản cho bà M quản lý và sử dụng. Bà M sẽ hoàn lại giá trị tương ứng cho bị đơn.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, đồng thời thu thập tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này đảm bảo cho việc ban hành các quyết định và bản án theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thể hiện tính vô tư, khách quan trong quá trình xét xử. Kiểm sát viên đã phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Theo đó, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu phân chia di sản thừa kế như sau:

  • - Xác định thửa đất và toàn bộ tài sản gắn liền thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động lần cuối chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017 là tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M.
  • - Phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M: Phần giá trị tài sản bà Lê Thị Kim M được hưởng là 969.243.000 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Phần giá trị tài sản ông Trương Văn P được hưởng là 969.243.000 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
  • - Xác định ½ giá trị tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M là di sản thừa kế của ông Trương Văn P.
  • - Phân chia di sản thừa kế của ông Trương Văn P: Bà Lê Thị Kim M, ông Trương Trọng T2, ông Trương Trong T4 mỗi người được hưởng giá trị di sản thừa kế của ông P là 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
  • - Bà Lê Thị Kim M được quyền sử dụng đất thửa đất diện tích 253m² và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động lần cuối chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017. Bà Lê Thị Kim M có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị mà ông T2 và ông T4 mỗi người được hưởng là 323.081.000 đồng.
  • - Bà Lê Thị Kim M được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
  • - Về án phí, chi phí tố tụng: Mỗi đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Lê Thị Kim M có đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp về thừa kế tài sản đối với ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1 đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong vụ án, nguyên đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Trương Văn P. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trương Trọng T1 từ khi vụ án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến ngày mở phiên tòa ông T2 và ông T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T2 và ông T1 không hợp tác, không đến Tòa án. Như vậy, ông T2 và ông T1 đã tự khước từ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về chứng cứ: Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

[3.1] Về diện tích đất tranh chấp: Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2023 (Bút lục 72, 73); Sơ đồ hiện trạng thửa đất được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã L vẽ theo ngày 05/7/2023 thì phần diện tích đất tranh chấp và tài sản gắn liền thửa đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 được Ủy ban nhân dân huyện H (C) cấp cho ông Bùi Văn D vào ngày 29/4/2004, cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017.

[3.2] Về hàng thừa kế: Ông Trương Văn P chết không để lại di chúc, di sản của ông Trương Văn P được chia thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Căn cứ tài liệu, chứng cứ tòa án thu thập được và sự thừa nhận của các đương sự thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Trương Văn P gồm: Bà Lê Thị Kim M, ông Trương Trọng T2, ông Trương Trọng T1, tổng cộng 03 suất thừa kế.

[3.4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo lời trình bày của nguyên đơn, bà Lê Thị Kim M và ông Trương Văn P là vợ chồng, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H vào ngày 25/4/2008. Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông P không có con chung. Trước khi kết hôn với bà M, ông P đã có vợ và đã ly hôn. Ông P và người vợ trước có hai con chung là ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1. Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông P đã tạo lập được tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 554a, tờ bản đồ số 01, diện tích 253m², tọa lạc tại xã T, huyện H (nay là khu phố B, phường T, thị xã L), được chứng nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004 và cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P vào ngày 13/10/2017. Theo lời trình bày của bị đơn, ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1 cũng xác định rằng ông Trương Văn P là cha của họ và là chồng hợp pháp của bà Lê Thị Kim M. Ông T2 và ông T1 xác nhận rằng thửa đất cùng toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017, là tài sản chung của ông P và bà M. Như vậy, việc ông T2 và ông T1 thừa nhận sự kiện này giống với lời trình bày của bà M, nên đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Có căn cứ xác định rằng thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cho ông Bùi Văn D vào ngày 29/4/2004, được cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017, là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà M và ông P.

[3.5] Về yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà M và ông P: Bà M yêu cầu phân chia khối tài sản chung giữa bà M và ông P, bà M nhận ½ giá trị tài sản chung là 1.938.486.000 đồng : 2 = 969.243.000 đồng. Ông T2 và ông T1 thống nhất yêu cầu phân chia tài sản chung của bà M. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phân chia khối tài sản chung của bà M.

[3.6] Về yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông P: Do ông P chết không để lại di chúc nên bà M yêu cầu phần chia di sản thừa kế của ông P đối với phần giá trị tài sản chung còn lại của ông P cho bà M, ông T2, ông T1 là: 969.243.000 đồng : 3 = 323.081.000 đồng. Tức bà M, ông T2, ông T1 mỗi người được hưởng 01 suất có giá trị là 323.081.000 đồng. Ông T2 và ông T1 thống nhất yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông P nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông P như yêu cầu của bà M.

[3.7] Về việc giao quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với thửa đất: Căn cứ theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2023, tài sản trên phần đất bao gồm 01 căn nhà cấp 4A và 01 mái che khung sắt tiền chế trước nhà, được xây dựng vào năm 2017, hiện tại do bà Lê Thị Kim M đang quản lý và sử dụng. Xét theo lời trình bày của bà M, hiện ngoài thửa đất và căn nhà đang tranh chấp, bà không có nơi ở nào khác. Bà M cũng chia phần phần tài sản lớn hơn trong khối tài sản chung. Trong khi đó, ông Trương Trọng T2 và ông Trương Trọng T1 không còn cư trú tại thị xã L, do đó, việc giao đất và tài sản gắn liền cho họ quản lý và sử dụng là không phù hợp với nhu cầu của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để giao cho bà M quyền sử dụng thửa đất có diện tích 253m² và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động lần cuối vào ngày 13/10/2017, chuyển nhượng cho ông Trương Văn P. Bà Lê Thị Kim M có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị tài sản mà ông T2 và ông T1 mỗi người được hưởng, tương đương 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí: Mỗi đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia theo quy định tại khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Về chi phí tố tụng: Mỗi đương sự phải chịu chi phí tố tụng theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia để hoàn lại cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 159, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ khoản 2 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 101; Khoản 2 Điều 147; Điều 157; Điều 159; Điều 165; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 612; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử:

[2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim M:

[2.1.1] Xác định thửa đất và toàn bộ tài sản gắn liền thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động lần cuối chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017 là tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M- Phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M: Phần giá trị tài sản bà Lê Thị Kim M được hưởng là 969.243.000 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Phần giá trị tài sản ông Trương Văn P được hưởng là 969.243.000 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

[2.1.2] Xác định ½ giá trị tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M là di sản thừa kế của ông Trương Văn P.

  • - Phân chia di sản thừa kế của ông Trương Văn P: Bà Lê Thị Kim M, ông Trương Trọng T2, ông Trương Trong T4 mỗi người được hưởng 01 suất giá trị di sản thừa kế của ông P là 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

[2.1.3] Bà Lê Thị Kim M có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị mà ông T2 và ông T4 mỗi người được hưởng là 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Bà Lê Thị Kim M được quyền sử dụng đất thửa đất diện tích 253m² và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 29/4/2004, cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017. Bà Lê Thị Kim M được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

[2.2] Về án phí: Bà Lê Thị Kim M phải chịu 50.770.000 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trương Trong T4, ông Trương Trọng T2 mỗi người phải chịu 16.154.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 06/4/2023 bà M đã nộp 3.330.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0013202 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi, nay chuyển thành 3.330.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà M còn phải nộp thêm 47.440.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí.

[2.3] Về chi phí tố tụng: Bà M phải chịu 5.226.000 đồng (Năm triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc. Ông T2, ông T4 mỗi người phải chịu 1.306.500 đồng (Một triệu ba trăm lẻ sáu nghìn năm trăm đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc để hoàn lại cho bà M. Bà M đã nộp đủ chi phí tố tụng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7A,7B và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[3] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/9/2024). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 79/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xác định thửa đất và toàn bộ tài sản gắn liền thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Tân cấp ngày 29/4/2004, cập nhật biến động lần cuối chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017 là tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M - Phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M: Phần giá trị tài sản bà Lê Thị Kim M được hưởng là 969.243.000 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Phần giá trị tài sản ông Trương Văn P được hưởng là 969.243.000 đồng (Chín trăm sáu mươi chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn đồng). [2.1.2] Xác định ½ giá trị tài sản chung của ông Trương Văn P và bà Lê Thị Kim M là di sản thừa kế của ông Trương Văn P. - Phân chia di sản thừa kế của ông Trương Văn P: Bà Lê Thị Kim M, ông Trương Trọng T, ông Trương Trong T2 mỗi người được hưởng 01 suất giá trị di sản thừa kế của ông P là 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng). [2.1.3] Bà Lê Thị Kim M có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị mà ông T và ông T2 mỗi người được hưởng là 323.081.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Bà Lê Thị Kim M được quyền sử dụng đất thửa đất diện tích 253m2 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 049887 do Ủy ban nhân dân huyện Hàm Tân cấp ngày 29/4/2004, cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Trương Văn P ngày 13/10/2017. Bà Lê Thị Kim Mai được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger