|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/DS-ST Ngày: 08 – 11 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
2. Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2024/TLST- DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2024/QĐST-HPT ngày 25/10/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (sau dây gọi tắt là V1); Địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S số A pasteur, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V – Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Chị Trần Thị T, sinh năm 1994, Nguyễn Trường T1, Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1995 - Cán bộ Ngân hàng V1 là người đại điện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 271041.24 ngay 10/10/2024) (Chị T, anh T2 có mặt, anh T1 vắng mặt)
2. Bị đơn:
Bà Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1976; Địa chỉ nơi ĐKHKTT: Tổ A, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; Địa chỉ nơi ĐKHKTT: T, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Ngân hàng TMCP Q, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị T, anh T2 thống nhất trình bày:
Ngân hàng TMCP Q đã ký với bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
Hợp đồng tín dụng số 3750960.22 ngày 24/11/2022 với nội dung: VIB cho bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H vay số tiền 1.100.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Sửa chữa nhà không thay đổi kết cấu tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 28, ấp (nay là khu phố) 1, xã (nay là phường) Minh T3, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; Thời hạn vay: 180 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 25/11/2037. Lãi suất vay: 15,9%/năm. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,9%/năm. Ngày trả lãi: Vào ngày 29 hàng tháng. Ngày 25/11/2022, V1 đã giải ngân cho bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3750960.22 với số tiền 1.100.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng số 3798811.23 ngày 26/5/2023 với nội dung: VIB cho bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H vay số tiền 64.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 26/5/2028. Lãi suất vay: 12%/năm. Ngày trả lãi: Vào ngày 26 hàng tháng. Ngày 26/5/2023, V1 đã giải ngân cho bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3798811.23 với số tiền 64.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 18, địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 942873, số vào số cấp GCN: CS 09814 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/12/2021, đứng tên bà Trần Thị Ngọc G”. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 00013521, Quyển số: 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Phước công chứng ngày 24/11/2022. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 05/6/2024, bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H đã thanh toán cho V1 số tiền là 106.932.875 đồng (trong đó: gốc là 30.560.000 đồng, lãi là 76.372.875 đồng). Ngày 15/10/2024 bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H đã thanh toán thêm cho Ngân hàng TMCP Q số tiền là 200.000.000 đồng và tất toán Hợp đồng tín dụng số 3798811.23 ngày 26/5/2023.
Do bà G, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên VIB yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 08/11/2024 là:
1.286.746.687đồng, bao gồm nợ gốc: 974.213.282 đồng và nợ lãi : 339.533.405 đồng; Buộc bà G, ông H tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 09/11/2024 cho đến khi bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 3750960.22 ngày 24/11/2022, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3750960.22 ngày 25/11/2022.
Trong trường hợp bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 18, địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 942873, số vào số cấp GCN: CS 09814 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/12/2021, đứng tên bà Trần Thị Ngọc G”. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 00013521, Quyển số: 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Phước công chứng ngày 24/11/2022 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V1 (Chi tiết xem Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 7831838.22.613 ngày 24/11/2022). Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho VIB
Về án phí và chi phí tố tụng: bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải nộp theo quy định của pháp luật.
[2]. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Bà Trần Thị Ngọc G trình bày tại Bản tự khai ngày 19/8/2024 như sau:
Thống nhất vào năm 2022 có vay của Ngân hàng Q số tiền 1.100.000.000 đồng và có thế chấp đất tại ấp E, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước và năm 2023 có vay số tiền 64.000.000 đồng, trong quá trình vay có trả được 106.900.000 đồng, số tiền còn lại quá khó khăn chưa trả được, nay Ngân hàng khởi kiện thì bà G dồng ý trả gốc và lãi cho Ngân hàng, đồng ý nếu không trả dược cho ngân hàng được phát mãi tài sản. Về thời gian, xin được gia hạn thêm thời gian.
[3]. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày tại Bản tự khai ngày 20/8/2024 như sau:
Thống nhất vào năm 2022 có vay của Ngân hàng Q số tiền 1.100.000.000 đồng và có thế chấp đất tại ấp E, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước và năm 2023 có vay số tiền 64.000.000 đồng, trong quá trình vay có trả được 106.900.000 đồng, số tiền còn lại quá khó khăn chưa trả được, nay Ngân hàng khởi kiện ông G xin ít tháng hoặc 1 năm đề tôi sắp xếp tài sản bán hoàn trả cho ngân hàng, nếu
quá thời hạn 01 năm thì tôi cho Ngân hàng tự thanh lý vì đây là nợ chung nên có trách nhiệm.
[4]. Tại phiên tòa;
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Trong quá trình tố tụng, vào ngày 15/10/2024 bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H đã thanh toán thêm cho Ngân hàng TMCP Q số tiền là 200.000.000 đồng và tất toán Hợp đồng tín dụng số 3798811.23 ngày 26/5/2023. Do đó, V1 rút yêu cầu khởi kiện đối với việc giải quyết Hợp đồng tín dụng số 3798811.23 ngày 26/5/2023.
- Bị đơn là bà Tràn Thị Ngọc G1 và ông Nguyễn Văn H vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc phiên tòa sơ thẩm; iệc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nhận thấy, các đương sự đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng, bị đơn bà G1, ông H chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 157, 189, 227, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 91, 94, 95 và 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 295, 298 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm; Án lệ số 08/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn VIB đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H. Buộc bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải thanh toán cho V1 số tiền còn nợ là: 1.286.746.687đồng, bao gồm nợ gốc: 974.213.282 đồng và nợ lãi : 339.533.405 đồng và phải tiếp tục trả lãi trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận đến khi trả xong nợ. Trường hợp bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì VIB được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 18, địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 942873, số vào số cấp GCN: CS 09814 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/12/2021, đứng tên bà Trần Thị Ngọc G” để thu hồi nợ. Về chi phí xem xét, thẩm định và án phí: Bị đơn bà G, ông H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Tại thời điểm thụ lý, bị đơn bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước nên căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Về sự tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử để giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn bà G và ông H.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ gốc 64.000.000 đồng và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 3798811.23 ngày 26/5/2023. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 3750960.22 ngày 24/11/2022, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 24/11/2022 giữa V1 và bà Trần Thị Ngọc G, ông Nguyễn Văn H ký kết Hợp đồng tín dụng số 3750960.22, theo đó V1 cho bà G, ông H vay số tiền 1.100.000.000 đồng, mục đích để sửa chữa nhà không thay đổi kết cấu tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 28, ấp (nay là khu phố) 1, xã (nay là phường) Minh T3, huyện (nay là thị xã ), tỉnh Bình Phước, thời hạn vay: 180 tháng, lãi suất vay: 15,9%/năm, hình thức trả dần gốc mỗi tháng và lãi của khoản vay vào ngày 29 hàng tháng. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,9%/năm. Như vậy, hợp đồng tín dụng được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, các thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định tại các Điều 91 và Điều 94 của Luật Các tổ chức tín dụng nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, các thỏa thuận trong hợp đồng có giá trị thi hành đối với các bên.
Thực hiện theo hợp đồng tín dụng đã ký, ngày 25/11/2022, V1 đã giải ngân cho bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3750960.22 với số tiền 1.100.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà G, ông H chỉ thanh toán được số tiền 106.932.875 đồng (trong đó: nợ gốc là 30.560.000 đồng và tiền lãi 76.372.875 đồng) đến kỳ thanh toán ngày 29/5/2023 thì mất khả năng thanh toán. Theo nội dung tại mục 3.3.1 Điều 3.0 tại điều khoản và điều kiện cấp tín dụng quy định “ Trường hợp Bên được cấp tín dụng không thanh toán bất kỳ số dư nợ gốc nào phải trả vào ngày đến hạn theo Tài liệu vay vốn và không được
V1 chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ, V1 có quyền quyết định chuyển số dư nợ gốc đó sang nợ quá hạn và thực hiện ngay các biện pháp thu hồi nợ phù hợp với quy định của pháp luật”. Như vậy, do VIB không cơ cấu lại thời hạn trả nợ do đó đến kỳ ngày 29/5/2024, bà G, ông H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 05/6/2024, VIB khởi kiện yêu cầu bà G, ông H phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc và tiền lãi phát sinh là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và được chấp nhận.
Về số tiền nợ gốc còn lại bà G và ông H phải thanh toán cho V1 là: 947.213.282 đồng
Về tiền lãi trong hạn tính đến ngày 10/01/2024 với mức lãi 15,90%/năm (từ 29/12/2022 đến 25/02/2023) và mức lãi 16,40%/năm (từ 25/02/2023 đến 10/01/2024) và mức lãi 16,40%/năm (từ 10/01/2024) là 204.162.597 đồng, bà G2, ông H đã thanh toán được 76.372.875 đồng, số tiền lãi trong hạn còn lại phải thanh toán là: 127.789.722 đồng.
Về tiền lãi quá hạn, theo nội dung tại mục 1.4.6 Điều 1.0 tại điều khoản và điều kiện cấp tín dụng quy định “Theo quy định tại Bất kỳ khoản tiền dư nợ gốc nào được cấp tín dụng theo Tài liệu vay vốn đến hạn phải thanh toán mà Bên được cấp tín dụng chưa thanh toán cho V1 sẽ là nợ quá hạn và sẽ chịu mức lãi suất bằng 150% của lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và được tính từ ngày khoản tiền dư nợ gốc đó đến hạn phải thanh toán cho đến ngày Bên được cấp tín dụng thanh toán đẩy đủ khoản tiền dư nợ gốc đó cho VI”. Như vậy, ngày 12/12/2024, V1 có thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn, do đó từ ngày 10/01/2024 đến ngày 01/11/2024 mức lãi quá hạn là 16,20% x 150% = 24,30%, với số tiền lãi quá hạn là : 211.743.683 đồng.
Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 08/11/2024 buộc bị đơn bà G, ông H phải thanh toán là: 1.286.746.687 đồng, bao gồm: nợ gốc: 947.213.282 đồng, nợ lãi trong hạn: 127.789.722 đồng, nợ lãi quá hạn: 211.743.683 đồng.
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16/5/2003 của Tòa án nhân dân tối cao và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì từ ngày 08/11/2024, bà G, ông H tiếp tục phải trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3750960.22 ngày 24/11/2022 cho đến khi trả xong nợ.
[3]. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 3750960.22 ngày 24/11/2022, giữa V1 và bà G, ông H đã ký kết Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 18, địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 942873, số vào số cấp GCN: CS 09814 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/12/2021, mang tên bà Trần Thị Ngọc G. Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, Hợp đồng thế chấp có nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm là phù hợp với quy định tại các Điều 295, 298 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên được chấp nhận.
[4]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, bị đơn bà G, ông H phải chịu theo quy định của pháp luật. Do V1 đã nộp tạm ứng trước nên bà G, ông H phải trả lại cho VIB số tiền này.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nguyên đơn VIB không phải chịu nên được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.560.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004359 ngày 19/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn bà G, ông H phải chịu án phí theo mức án phí có giá ngạch trên số tiền phải trả cho V1 với số tiền án phí là: 36.000.000 đồng + (3% x 486.746.687 đồng) = 50.602.400 đồng.
[6]. Tại tòa quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 157, 189, 227, 266, 271, 273 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 91, 94, 95 và 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 295, 298 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm; Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16/5/2003 của Tòa án nhân dân tối cao và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản nợ gốc 64.000.000 đồng và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 3798811.23 ngày 26/5/2023
Buộc bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 08/11/2024 là : 1.286.746.687 đồng, bao gồm: nợ gốc: 947.213.282 đồng, nợ lãi trong hạn: 127.789.722 đồng, nợ lãi quá hạn: 211.743.683 đồng.
Bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3750960.22 ngày 24/11/2022 từ ngày 09/11/2024 cho đến khi trả xong nợ.
Trường hợp bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 18, địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện (nay là thị xã) Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 942873, số vào sổ cấp GCN: CS 09814 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/12/2021, mang tên bà Trần Thị Ngọc G để thu hồi nợ.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 3.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trần Thị Ngọc G và ông Nguyễn Văn H phải nộp là: 50.602.400 đồng. Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.560.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004359 ngày 19/7/2024.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Đương sự có mặt tại Tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Chu Thị Thu Hà |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
