|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2022/HS-ST Ngày 07-9-2022 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Đức Cảnh
- Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Thư ký tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Liễu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm -Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần - Cơ sở giam giữ Công an nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 và đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1989 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn a, xã b, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị A; tiền án: Bản án số 137/2017/HSST ngày 11-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 42 tháng tù về tội cướp giật tài sản; tiền sự: Quyết định số 179/QĐ-TA ngày 29-5-2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 24 tháng; nhân thân: Bản án số 168/2010/HSST ngày 20-5-2010 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 3 tháng 9 ngày tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10-02-2022 đến ngày 11 tháng 02 năm 2022 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Quỳnh A, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn 4, xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn Đ (bố đẻ của chị Quỳnh A); nơi cư trú: Thôn 4, xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; văng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: A Lê Văn H, nơi cư trú: Thôn 7, xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác (người hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần):
- Ông Phạm Thế Duyệt- Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Ông Nguyễn Quang Duy - cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ Công an huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy không có tiền ăn tiêu nên S đã nảy sinh ý định đi chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu sài. Để thực hiện ý định trên, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09-02-2022 S điều khiển xe mô tô biểm kiểm soát 15B3-950.30 đến khu vực đường liên xã thuộc thôn 7, xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng thì phát hiện phía trước cùng chiều có A Lê Văn H, nơi cư trú: Thôn 7, xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên điều khiển xe đạp điện chở chị Phạm Quỳnh A, nơi cư trú: Thôn 4, xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; trên tay chị Quỳnh A cầm chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 màu đen. S điều khiển xe mô tô nêu trên áp sát ngang phía bên trái xe đạp điện của A H, dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay chị Quỳnh A rồi tăng tốc xe bỏ chạy thì làm rơi chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được từ tay chị Quỳnh A. S dừng xe lại cúi người xuống lấy chiếc điện thoại thì A H hô hoán và điều khiển xe đạp điện lao vào đầu xe mô tô của S khiến S và xe mô tô đổ ra đường. S bị A H và người dân bắt giữu và báo lực lượng công an xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên bắt cùng tang vật.
Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án, S xuất hiện cơn co giật do năm 2011 S bị tai nạn giao thông đường bộ. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với S. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 34/KLGĐ ngày 20-4-2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc- Bộ Y tế kết luận: Nguyễn Văn S bị bện động kinh không có rối loạn tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 09-02-2022, Nguyễn Văn S bị bệnh động kinh không có rối loạn tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại Nguyễn Văn S bị bệnh động kinh không có rối loạn tâm thần đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Quỳnh A và A Lê Văn H trình bày phù hợp với nội dung nêu trên. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của A Lê Văn H. Ngày 09-02-2022 trong lúc A H chở chị Quỳnh A thì A H cho chị Quỳnh A mượn chiếc điện thoại trên để sử dụng thì bị S chiếm đoạt. Hiện cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại chiếc điện thoại trên cho A H. Chị Quỳnh A và A H không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 10/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 màu đen trị giá 10.500.000 đồng.
Đói với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B3-950.30, tài liệu điều tra xác định chiếc xe mô tô trên đứng tên đăng ký Nguyễn Văn S nhưng là tài sản của bà Bùi Thị Àn, sinh năm 1962, nơi cư trú: Thôn Đình, xã Trung Hà, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (mẹ đẻ của S) bỏ tiền ra mua. Ngày 09-02-2022 bà Àn cho S mượn xe nhưng không biết việc S dùng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà An là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung Kết luận giám định, Kết luận định giá không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Tại Bản Cáo trạng số 71/CT-VKSTN ngày 04 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 05 đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, bị cáo ăn năn hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội dA, định khung hình phạt: Nguyễn Văn S có 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản xử phạt 42 tháng tù (tội rất nghiêm trọng) chưa được xóa án tích. Ngày 09-02-2022, tại khu vực thôn 7, xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn S có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái xe đạp điện do A H điều khiển phía sau chở chị Phạm Quỳnh A rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 trị giá 10.500.000 đồng trên tay chị Phạm Quỳnh A. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d (thủ đoạn nguy hiểm), i (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
- [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- [4] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, xét thấy cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không phạt tiền đối với bị cáo.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- [7] Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.
- [8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
- [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d,i khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn S 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10 tháng 02 năm 2022.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |
Bản án số 79/2022/HS-ST ngày 07/09/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 79/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/09/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 5 năm tù
