Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 789/2025/DS-PT

Ngày: 16-12-2025,

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất và đòi quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn

Ông Trần Tấn Quốc

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hường, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Phạm Khánh, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10, 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 613/2025/DS-PT ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 658/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Hà Văn L, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hà Ngọc S, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh.(Có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Mộng H – Văn phòng Luật sư Trần Mộng H – Đoàn Luật sư tỉnh T. (Có mặt)

  3. Bị đơn: Bà Hồ Thị Hồng P, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh.
    2. Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

    3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1957; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nay là: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
  6. Người kháng cáo: bà Hồ Thị Hồng P, ngày 16/7/2025 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Hà Văn L do ông Hà Ngọc S đại diện trình bày: Ông L có phần đất diện tích 8.032m² gồm các thửa 1382, 1383, 1410, 1411 cùng tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại xã M, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc ông bà cha mẹ của ông L để lại. Ông L là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này từ trước năm 1975 đến nay. Ông L đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/12/1996 số vào số I 136 QSDĐ/0303LA. Khi cấp giấy không tiến hành đo đạc thực tế, không ký giáp ranh xác định ranh giới đất với các thửa liền kề mà sang tên theo giấy chứng nhận của cha mẹ ông L. Ngoài ra khi cha mẹ ông L còn sống có cho ông thửa đất 1320 từ trước năm 1975. Ông L quản lý sử dụng nhưng giấy tờ đất do ông Hà Văn T2 (anh của ông L) đứng tên. Năm 2017 ông T2 chết nên thừa kế lại cho bà Phạm Thị N (vợ ông T2). Năm 2020 để làm thủ tục chuyển lại thửa đất cha mẹ cho nên giữa ông L và bà N lập hợp đồng chuyển nhượng thửa 1320, khi nhận chuyển nhượng không tiến hành đo đạc thực tế, không ký giáp ranh xác định ranh giới đất với các thửa liền kề mà chỉ sang tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N. Năm 2020 ông L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tấn X phần diện tích đất là 1.552m². Diện tích thửa 1320 hiện còn lại trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L là 837,3m² nhưng thực tế không đo đạc.

Bà Hồ Thị Hồng P là người sử dụng đất thửa 1349, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp A, xã M đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSD đất trùm luôn phần đất của ông L đã và đang sử dụng. Do đó đơn khởi kiện trước đây của ông L chỉ yêu cầu bà P trả cho ông L phần đất có diện tích 200m². Nay theo Mảnh Trích đo bản đồ địa chính ngày 14/02/2025, thì phần đất tranh chấp có vị trí tại khu B, khu G, khu I, diện tích khoảng 272,2m². Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ ông L tặng cho ông L bằng miệng trước năm 1975, trước khi được tặng cho đất thì cha mẹ ông L quản lý sử dụng phần đất tranh chấp, sau khi được cho đất thì ông L là người trực tiếp quản lý sử dụng đất cho đến nay. Hiện trạng đất trước đây cha mẹ ông L sử dụng đất tranh chấp để trồng lúa, tiếp tục ông L trồng lúa trên phần đất tranh chấp một vụ, sau đó ông L có đắp đất để làm nền nhà. Hiện trạng đất hiện tại gồm có một phần ao nuôi cá và phần bờ đi, trên đất có trồng một số cây ăn trái, trước đây có 01 chuồng vịt nhưng từ khi tranh chấp gia đình ông L không sửa chữa nên nay đã xuống cấp và không sử dụng được. Thực trạng giữa phần đất của ông L đang sử dụng thuộc các khu B, G, I (phần đất tranh chấp) với phần đất của bà P sử dụng được ngăn cách bởi một con rạch công cộng có chiều ngang khoảng 4m, chiều dài chạy từ mặt đường liên xóm đá xanh qua thửa 1320, 1382, 1383, 1410, 1411 của ông L. Con rạch này đã hình thành từ trước năm 1975 cho đến nay. Năm 2018 ông L yêu cầu cơ quan chức năng đo đạc đất để tặng cho đất cho con thì phát hiện phần đất tranh chấp thuộc thửa 1349 của bà P nên tranh chấp. Đất tại vị trí khu B, khu G, khu I từ trước năm 1975 đến nay do ông L sử dụng, bà P không sử dụng, nhưng bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1349 trùm luôn khu B, khu G, Khu I của ông L. Từ trước khi tranh chấp thì bà P không có tranh chấp gì về việc ông L quản lý sử dụng đối với phần diện tích đất khoảng 272,2m² thuộc các khu B, khu G, khu I. Khi ông L khởi kiện đến Ủy ban nhân dân xã M thì bà P cùng chồng đồng ý giao trả đất tranh chấp cho ông L nhưng sau đó không thực hiện. Nay ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần đất có diện tích khoảng 272,2m² bao gồm các khu B, G, I theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 thuộc một phần thửa 1320, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh của ông Hà Văn L. Trước đây trong đơn khởi kiện ông L có yêu cầu bà P trả lại phần đất tranh chấp thuộc khu D theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 264-2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo đạc ngày 03/10/2022 nay ông L xác định không yêu cầu bà P trả lại khu D nữa, ông L không tranh chấp khu D. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1349, tờ bản đồ số 3, tọa lạc taị ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh của bà P đứng tên thì ông L xác định không yêu cầu. Ông L không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về quản lý đất đai đối với phần đất tranh chấp. Ông L thống nhất Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 và chứng thư thẩm định giá ngày 24/02/2025 của công ty T3. Ông L không yêu cầu đo đạc định giá lại.

Đối với các khu C, D, F theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 thì ông L xác định không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu ông Hà Văn L, bà Nguyễn Thị T1 trả cho bà Hồ Thị Hồng P phần diện tích 234,5m² thuộc khu B theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 thì ông L không đồng ý. Ngoài ra ông L không còn yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn, bà Hồ Thị Hồng P do ông Nguyễn Minh T đại diện trình bày: Thửa đất số 1349, tờ bản đồ số 3, diện tích 3125m², loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc taị ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh bà P được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/6/2000. Nguồn gốc thửa đất số 1349 là của mẹ bà P tặng cho bà P trước năm 2000, sau khi được tặng cho đất thì bà P trực tiếp quản lý sử dụng đất. Khi bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không đo đạc thực tế, không ký giáp ranh với các hộ liền kề mà sang tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mẹ bà P. Hiện trạng thửa đất 1349 khi bà P được cho là đất biền lá tự nhiên bao gồm cả phần đất tranh chấp. Khu B trước đây là biền lá do bà P sử dụng sau này năm 2019 ông L có mướn kube vào đào ao nuôi cá, khi đó bà P có ngăn cản nhưng ông L nói là đất của ông L nên bà P vẫn để cho ông L đào ao mà không báo chính quyền địa phương. Khu G, khu I thì thuộc quyền sử dụng đất của ông L chứ không thuộc quyền sử dụng thửa đất 1349 của bà P nên bà P không tranh chấp đối với ông L, bà P đồng ý trả cho ông L phần đất thuộc khu G, khu I. Bà P chỉ tranh chấp khu B với ông L. Khi ông L làm chuồng vịt chồng gà, trồng cây, đắp nền trên phần đất tranh chấp thì bà P cũng không ngăn cản vì ông L cho rằng phần đất này là của ông L.

Tiếp giáp giữa các thửa đất của ông L với phần đất bà P thực tế quản lý sử dụng thuộc thửa đất 1349 có một đường nước, đường nước hình thành từ thời gian nào ông T không nhớ chỉ nhắm khoảng năm 2000. Đường nước ngày xưa đã có để cho các hộ phía trong sử dụng làm phượng tiện di chuyển ra ngoài, gia đình bà P không bồi đắp đường nước. Trên thực tế thì các thửa đất khác của ông L tiếp giáp liền mạch với phần đất tranh chấp (khu B) rồi mới tới đường nước và tới phần đất bà P hiện đang quản lý sử dụng (khu A). Nay bà P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L đồng thời phản tố yêu cầu ông L bà T1 giao trả cho bà P diện tích đất 234,5m² thuộc khu B mảnh trích đo địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 vì đất bà P sử dụng từ xưa không có ai tranh chấp, thuộc quyền sử dụng thửa đất số 1349 của bà P.

Đối với yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà P trả lại cho ông L phần đất thuộc khu G, khu I thì ông T đại diện bà P xác định phần đất này là thuộc quyền sử dụng đất của ông L nên bà P không tranh chấp

Đối với các khu C, D, F theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 thì bà P và ông V xác định không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Bà P thống nhất với M trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 và chứng thư thẩm định giá ngày 24/02/2025 của công ty T3 nên không yêu cầu đo đạc định giá lại. Ngoài ra bà P không còn yêu cầu hay ý kiến nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn V do ông Nguyễn Minh T đại diện trình bày: Ông Văn thống N1 với lời trình bày của bà P và ông T. Ông V xác định không có yêu cầu nào trong vụ án này. Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà T1 thống nhất với lời trình bày của ông L và ông S. Bà T1 xác định không có yêu cầu nào trong vụ án này đồng thời xin vắng mặt. Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xin rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1349.

Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố.

Tại Bản án sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn L đối với bị đơn bà Hồ Thị Hồng P về tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Xác định phần đất có diện tích 234,5m² thuộc khu B theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 là thuộc thửa đất số 1320, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An) của ông Hà Văn L.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự: Xác định khu G, I theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 là thuộc thửa đất số 1320, tờ bản đồ số 03, tọa lạc taị ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An) của ông Hà Văn L.

    Vị trí tứ cận khu đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025.

    Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

    Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

  3. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Hà Văn L đối với bị đơn bà Hồ Thị Hồng P về tranh chấp hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1349, tờ bản đồ số 03, tọa lạ tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An). Ông L được quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Hồng P đối với ông Hà Văn L và bà Nguyễn Thị T1 về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất.
  5. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Hồ Thị Hồng P có trách nhiệm hoàn trả cho ông Hà Văn L số tiền 37.900.000 đồng.
  6. Kể từ ngày ông Hà Văn L có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Hồ Thị Hồng P phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Hồng P chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của ông Hà Văn L và 300.000đ án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số 0009702 ngày 13/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Tây Ninh) sang án phí. Bà P phải nộp thêm 300.000đ án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/7/2025, bà Hồ Thị Hồng P, là bị đơn trong vụ án, có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Hồ Thị Hồng P là ông Nguyễn Minh T trình bày: Bà Hồ Thị Hồng P đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất số 1349 từ năm 2000 và trong suốt quá trình cấp giấy không có ai khiếu nại, tranh chấp. Ông Hà Văn L không xuất trình được giấy tờ hợp pháp nào để chứng minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất. Tại phiên tòa, phía bị đơn đã cung cấp vi bằng là chứng cứ thể hiện ông L là người lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn. Ngoài ra, có các hộ dân lân cận xác nhận trước năm 2019, phần đất tranh chấp để hoang hoá, không ai sử dụng, đến năm 2019 ông L mới tiến hành canh tác, sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm không kiểm tra ranh giới đất trên thực địa một cách đầy đủ mà chỉ căn cứ vào bản vẽ và lời trình bày của một phía là không khách quan, không tiến hành lấy lời khai của các chủ sử dụng đất liền kề. Đại diện bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và sửa bản án sơ thẩm phần khu B.

Nguyên đơn ông Hà Văn L do ông S đại diện trình bày: Phần đất tranh chấp là do ông bà để lại cho ông Hà Văn L sử dụng. Ranh giới giữa phần đất của ông và đất của bà P là con rạch công cộng tồn tại từ xưa đến nay. Phần đất này gia đình ông sử dụng ổn định, liên tục từ trước đến nay không có ai tranh chấp. Tại biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, hai bên đã thống nhất đất của ai thì trả lại cho người đó.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cha mẹ ông Hà Văn L để lại cho ông L sử dụng. Ranh giới giữa đất của bà P và đất của ông L là con rạch công cộng. Phần đất này ông L sử dụng để đào ao nuôi cá, làm chuồng trại chăn nuôi gà, vịt từ trước năm 1975 đến nay. Năm 2018, khi ông L yêu cầu đo đạc để làm thủ tục về đất đai thì mới phát hiện phần đất khu B lại thuộc thửa 1349 do bà P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa, ông T cho rằng phần đất này do bà P sử dụng, tuy nhiên tại cấp sơ thẩm chính ông T đã thừa nhận phần đất khu B là do ông L sử dụng từ trước đến nay. Bị đơn chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không chứng minh được quá trình quản lý, sử dụng thực tế. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn L là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Đơn kháng cáo của bà Hồ Thị Hồng P, ngày 16/7/2025 nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

  2. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Hồng P, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Theo đơn khởi kiện và đối chiếu với Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025, Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025, ông Hà Văn L tranh chấp với bà Nguyễn Thị Hồng P1, đất có vị trí tại khu B, khu G, khu I. Ông L yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, bà P1 yêu cầu ông L trả đất. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P1, ông L thống nhất phần đất khu G,I thuộc quyền sử dụng của ông L nên cấp phúc thẩm không xem xét lại.

    Đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1349, tờ bản đồ số 3, do ông L rút đơn khởi kiện, bà P1 không có ý kiến phản đối nên không xem xét lại.

    Cấp phúc thẩm xét phần đất tranh chấp thuộc khu B, Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025, Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025.

    1. Về nguồn gốc đất: Ông Hà Văn L trình bày sử dụng thửa đất số 1320, tờ bản đồ số 3 dựa trên cơ sở cha mẹ cho đất con nhưng hồ sơ pháp lý thể hiện đất do ông L nhận chuyển nhượng từ bà Phạm Thị N. Thửa đất số 1349, tờ bản đồ số 3, bà P1 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/6/2000 trên cơ sở mẹ bà P1 tặng cho bà P1 trước năm 2000.
    2. Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cả hai thửa đất đều không đo đạc thực tế, không ký giáp ranh với các hộ liền kề mà sang tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ đất trước đó.
    3. Về quá trình sử dụng đất: Ông Hà Văn L trình bày ông L là người sử dụng đất từ năm 1975 đến nay. Bị đơn bà P1 cho rằng phần đất bỏ hoang, không ai sử dụng. Ông L chỉ sử dụng từ 2019 đến nay. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh thể hiện phần đất tranh chấp gồm một phần bờ đất và một phần ao. Trên bờ đi có một số cây trồng: xanh, dừa, gừa, chuối. Các bên thống nhất do ông L trồng và quản lý sử dụng. Giáp ranh với phần đất tranh chấp giữa các thửa đất của ông L với phần đất bà P1 thực tế quản lý sử dụng thuộc thửa đất 1349 có một đường nước, đường nước hình thành từ thời gian nào ông T không nhớ chỉ nhắm khoảng năm 2000. Đường nước ngày xưa đã có để cho các hộ phía trong sử dụng làm lối đi lưu thông ra bên ngoài.
    4. Như vậy, mặc dù chứng cứ về việc ông L sử dụng đất từ năm 1975 là chưa vững chắc nhưng thực tế ông L là người sử dụng đất từ trước khi tranh chấp. Phần đất tranh chấp là một phần của ao do ông L đào, sử dụng và có đường nước công cộng ngăn cách với phần đất của bà P1. Bà P1 là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế không sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không đo đạc thực tế nên không thể căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng để xác lập quyền sử dụng.
  3. Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng bản chất vụ án, áp dụng đúng pháp luật. Bà Hồ Thị Hồng P kháng cáo nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo.
  4. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm tuyên: “Xác định phần đất có diện tích 234,5m² thuộc khu B theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 là thuộc thửa đất số 1320, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An). Ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự: Xác định khu G, I theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 là thuộc thửa đất số 1320, tờ bản đồ số 03, tọa lạc taị ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An) của ông Hà Văn L” là chưa chính xác. Việc xác định phần đất thuộc thửa nào là thẩm quyền của cơ quan quản lý đất đai, Toà án chỉ giải quyết và xác định thửa đất thuộc quyền sử dụng của ai trong phạm vi khởi kiện của người khởi kiện. Do đó, cần sửa cách tuyên án.
  5. Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
  6. Về án phí:

    Án phí phúc thẩm dân sự: do kháng cáo của bà Hồ Thị Hồng P không được chấp nhận nên bà Hồ Thị Hồng P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Hồng P.

Giữ nguyên nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, có sửa cách tuyên án.

Áp dụng các Điều 95, 99, 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 133, 223, 226 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 164, 165, 166, 175, 184, 221 và 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 12, 14, 26, 27 và 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn L đối với bị đơn bà Hồ Thị Hồng P về tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Xác định phần đất có diện tích 234,5m² thuộc khu B theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An) thuộc quyền sử dụng của ông Hà Văn L.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự: Xác định khu G, I theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025 tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An) thuộc quyền sử dụng của ông Hà Văn L.

    Vị trí tứ cận khu đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 100-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 14/02/2025 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 100A-2025 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 14/02/2025.

    Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

    Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

  3. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn ông Hà Văn L đối với bị đơn bà Hồ Thị Hồng P về tranh chấp hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1349, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An). Ông L được quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Hồng P đối với ông Hà Văn L và bà Nguyễn Thị T1 về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất.
  5. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Hồ Thị Hồng P có trách nhiệm hoàn trả cho ông Hà Văn L số tiền 37.900.000 đồng.
  6. Kể từ ngày ông Hà Văn L có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Hồ Thị Hồng P phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị Hồng P chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của ông Hà Văn L và 300.000đ án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số 0009702 ngày 13/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Tây Ninh) sang án phí. Bà P phải nộp thêm 300.000đ án phí.
  8. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Hồ Thị Hồng P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0001058 ngày 17 tháng 7 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 1 - Tây Ninh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Tây Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
  • - Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
  • - Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thúy Lành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 789/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 789/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn L "tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi quyền sử dụng đất" Hồ Thị Hồng P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger