trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 788/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/6/2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Mai Thị Tám;
  • 2/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 560/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích L, sinh năm 2001 (có mặt).

Địa chỉ thường trú: Số A đường A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ hiện nay: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Ông Võ Văn V, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Số A đường A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn xin ly hôn ngày 19 tháng 12 năm 2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L trình bày sự việc như sau:

Ông Võ Văn V trước đây đã có vợ và đã ly hôn. Sau đó, bà (Phạm Thị Bích L) và ông Võ Văn V tìm hiểu nhau, đến năm 2020 thì kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 47 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/3/2020.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng những năm gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi vã. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn ý nghĩa, mục đích hôn nhân không đạt nên bà L yêu cầu ly hôn dứt khoát với ông V. Bà L và ông V đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay.

Về con chung: Bà L và ông V có 01 con chung tên là Võ Phạm Huyền T, sinh ngày 22/4/2020. Hiện tại con chung đang ở cùng với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

- Tại bản tự khai ngày 23 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Võ Văn V trình bày:

Ông (Võ Văn V) đồng ý ly hôn với bà Phạm Thị Bích L.

Về con chung: Ông V đồng ý giao con chung là trẻ Võ Phạm Huyền T, sinh ngày 22/4/2020 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Võ Văn V hiện có địa chỉ cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 560/TB-TA ngày 15/5/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2024 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Võ Văn V có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông V.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Võ Văn V, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị Bích L và ông Võ Văn V sau thời gian tìm hiểu, đến năm 2020 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 47 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/3/2020, đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Tại đơn xin ly hôn cũng như tại phiên tòa, bà L khai rằng ông Võ Văn V trước đây đã có vợ và đã ly hôn. Sau đó bà và ông V tìm hiểu, kết hôn với nhau. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng những năm gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Bà L và và ông V đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn ý nghĩa, mục đích hôn nhân không đạt nên bà L yêu cầu ly hôn dứt khoát với ông V.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông V có nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa, bà L vẫn cương quyết xin ly hôn với ông V vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể kéo dài; mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, ông V có đơn xin vắng mặt, đồng thời có bản tự khai đồng ý ly hôn với bà L.

Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà L và ông V không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà L là có cơ sở.

- Về con chung:

Bà L và ông V có 01 con chung tên là Võ Phạm Huyền T, sinh ngày 22/4/2020, hiện con chung đang sống với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Ông V có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đồng thời có bản tự khai trình bày ý kiến về con chung: Ông V đồng ý giao con chung là trẻ Võ Phạm Huyền T, sinh ngày 22/4/2020 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, không có ý kiến về việc cấp dưỡng.

Xét thấy, do trẻ Trân đang còn nhỏ, hiện đang sống ổn định cùng với bà L nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ T cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Do bà L không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà L.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông V được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Bà L và ông V cùng khai không có nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà L và ông V cùng khai không có nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí:

Bà L phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Bích L.

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị Bích L được quyền ly hôn với ông Võ Văn V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 47 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà L và ông V ngày 26/3/2020, không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung:

Giao con chung tên là Võ Phạm Huyền T, sinh ngày 22/4/2020 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông V được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Bà L và ông V cùng khai về tài sản chung không có nên không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà L và ông V cùng khai không có nghĩa vụ dân sự chung nên không xét.

  1. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà L phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015237 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Võ Văn V) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - UBND xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 788/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 788/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, không cấp dưỡng, không tài sản chung, không nợ chung.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger