Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 788/2024/DS-ST

Ngày: 30-09-2024

V/v “tranh chấp về không gian

qua bất động sản liền kề”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thái Quân
  2. Ông Đặng Anh Đoan

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 177/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 07 năm 2023 về việc “Tranh chấp về không gian qua bất động sản liền kề” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 463/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 08 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 288/2024/QÐST-DS ngày 13 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ánh N, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;

2. Bị đơn: Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Võ Thị L, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.2. Ông Trần Văn G, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.3. Bà Dương Thị Kim P, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.4. Bà Trần Thị Oanh K, sinh năm 2003; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;

3.5. Ông Trần Quốc C, sinh năm 2007; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.6. Bà Trần Ngọc D, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.7. Ông Trần Vũ P1, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt;

3.8. Ông Trần Minh T, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ A, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.9. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957; địa chỉ: số B tổ F ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.10. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.11. Ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1968; địa chỉ: tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.12. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.13. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972; địa chỉ:A ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.14. Bà Nguyễn Thị P3, sinh năm 1973; địa chỉ: số A tổ A ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.15. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: I tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.16. Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1979; địa chỉ: nhà số A tổ C, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.17. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1968; địa chỉ: nhà số F tổ G, ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.18. Ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1972; địa chỉ: nhà số G, tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.19. Ông Lê Văn N2, sinh năm 1974; địa chỉ: nhà số F, tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.20. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1977; địa chỉ: số A tổ A ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, có yêu cầu vắng mặt;

3.21. Bà Bùi Thị K1, sinh năm 1966; địa chỉ: số G tổ A ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.22. Bà Bùi Phong P4, sinh năm 1969; địa chỉ: số E tổ A ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.23. Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ A ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.24. Ông Bùi Văn D1, sinh năm 1974; địa chỉ: số F tổ A ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.25. Bà Bùi Thị T4, sinh năm 1976; địa chỉ: số A tổ C ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.26. Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ A ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.27. Ông Bùi Văn T5, sinh năm 1985; địa chỉ: số A tổ E ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.28. Ông Trần Văn T6, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ D ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.29. Ông Trần Văn P5, sinh năm 1973; tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.30. Ông Trần Văn P6, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ D ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.31. Ông Trần Văn Â, sinh năm 1950; địa chỉ: tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.32. Ông Trần Văn L2, sinh năm 1951; địa chỉ: nhà số B tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.33. Bà Nguyễn Huỳnh M1, sinh năm 1953; địa chỉ: số A tổ F ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.34. Ông Lâm Văn T7, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt;

3.35. Bà Phạm Thị D2, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ A ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt;

3.36. Bà Trần Thị P7, sinh năm 1974; địa chỉ: khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.37. Ông Trần Tấn P8, sinh năm 2000; địa chỉ: khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.38. Ông Trần Khánh P9, sinh năm 2010; địa chỉ: khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.39. Ông Lâm Văn S, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.40. Bà Lâm Thị M2, sinh năm 1958; địa chỉ: khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

3.41. Bà Lâm Thị M3, sinh năm 1960; địa chỉ: Kênh A xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, có yêu cầu vắng mặt;

3.42. Ông Lâm Văn Cảnh A, sinh năm 1964; địa chỉ: khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, có yêu cầu vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Ánh N trình bày: Nguồn gốc đất của cha mẹ chồng (Trần Văn H3, Nguyễn Thị P10), ông H3 với bà P10 có 08 người con gồm: (1. Trần Thị L3; 2. Trần Thị M4; 3. Trần Thị Đ2; 4. Trần Văn H4; 5. Trần Văn Â; 6. Trần Văn L2; 7. Nguyễn Huỳnh M1; 8. Trần Văn L4) để lại từ năm 1980, sau khi cha mẹ mất, các anh em tự phân chia đất, phần của ông Trần Văn L4 (chồng bà N) được hưởng diện tích khoảng 650m², đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N đã quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1980 cho đến nay. Các bên không tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo sơ đồ đo đạc hiện trạng diện tích bà N quản lý sử dụng là 618,9m², thuộc thửa đất 58, tờ bản đồ 27, giáp ranh giới đất của bà N có căn nhà của ông Dương Văn Đ xây dựng phần lấn chiếm không gian mái tol là 1,9m². Vì vậy, bà N yêu cầu ông Dương Văn Đ, Võ Thị L, Trần Văn G, Dương Thị Kim P, Trần Thị Oanh K, Trần Quốc C có nghĩa vụ tháo dỡ, phần chiếm không gian mái tol tổng diện tích 1,9m², theo sơ đồ đo đạc do Văn phòng Đ3 Chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024.

Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện gồm: Đơn khởi kiện, tờ thuận phân về quyền sử dụng đất; biên bản hoà giải tranh chấp đất đai; thông báo kết quả hoà giải số 122, ngày 15/03/2021; các giấy chứng tử; giấy khai sinh; giấy uỷ quyền; tờ thuận phân đất của ông Trần Văn L4.

Bị đơn ông Dương Văn Đ trình bày: Ông Dương Văn Đ với bà Võ Thị L là vợ chồng, vào năm 1982 vợ chồng ông Đ có nhận chuyển nhượng diện tích đất ngang 6,5m dài 8m của ông Lâm Văn K2 và bà Trần Thị N3, giữa hai bên có làm giấy viết tay, phần đất này hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong giấy sang nhượng đất thể hiện chiều ngang 6,5m, nhưng khi bà N3 giao đất chiều ngang 5,8m, chiều dài không đo đạc nhưng có cắm trụ ranh và ông Đ, bà L đã xây dựng nhà ở ổn định, hiện ông Đ và bà L để căn nhà này lại cho con và cháu ở. Nên theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Đ không đồng ý.

Tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến của bị đơn: Tờ bán đứt đất thổ cư cất nhà ngày 05/5/1982; hình ảnh bia mộ của ông K2, bà N3; hộ khẩu; Căn cước công dân.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Trần Vũ Phương trình B: Ông P1 là con ruột của ông Trần Văn L4 và bà Võ Thị Ánh N, ông P1 thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà N.

Bà Võ Thị L trình bày: Bà L với ông Đ là vợ chồng, vào năm 1982 bà Võ Thị L có đứng tên mua phần đất của ông Lâm Văn K2 và bà Trần Thị N3 với diện tích ngang 5,8m dài 8m, nhưng do họ hàng nên chỉ đo chiều ngang, không đo đúng chính xác phần chiều dài và vợ chồng đã xây dựng nhà ở ổn định không lấn chiếm đất và không gian. Nên, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà L không đồng ý.

Bà Nguyễn Huỳnh M1 trình bày: Bà M1 là chị ruột của ông L4, phần đất hiện nay bà N đang quản lý sử dụng là của ông bà cha mẹ để lại, sau đó anh em thoả thuận phân chia giao cho bà N quản lý sử dụng diện tích khoảng 650m², phần đất của bà N giáp ranh với ông Dương Văn Đ. Phần đất của ông Đ mua lại của ông K2 và bà N3 thì ông Đ đã xây dựng căn nhà hết đất, thời điểm mua đất Nhà Nước chưa làm tỉnh lộ, sau đó Nhà Nước làm đường nhựa (tỉnh lộ) thì ông Đ sửa chữa căn nhà loại nhà cấp 4, xây gạch xi măng hết diện tích đất, nên căn nhà của ông Đ xây dựng lấn chiếm không gian mái nhà bằng tol tổng diện tích 1,9m² qua bất động sản của bà N theo sơ đồ do Văn phòng Đ3 Chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024 nên bà M1 cũng thống nhất theo cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà Trần Thị Oanh K trình bày: Hiện căn nhà này ông Đ, bà L không sinh sống trong căn nhà mà căn nhà nay hiện nay gồm có bà P, ông G, bà K, ông C đang sinh sống, ngoài ra không còn ai khác.

Ông Lâm Văn S, bà Lâm Thị M2 trình bày: cha cụ Lâm Văn K2 và mẹ cụ Trần Thị N3 đã chết, việc cụ K2, cụ N3 có sang nhượng đất cho ông Đ, bà L hay không thì các ông bà không biết, nên không tranh chấp với ông Đ và bà N.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà N yêu cầu ông Dương Văn Đ, Võ Thị L, Trần Văn G, Dương Thị Kim P, Trần Thị Oanh K, Trần Quốc C có nghĩa vụ tháo dỡ, phần chiếm không gian mái tol tổng diện tích 1,9m². Bà N4 không tranh chấp về đất, đối với cây trồng (Chuối) phía sau nhà ông Đ, bà N4 tự chặt để đo đạc thì bà N4 không tranh chấp, không yêu cầu bồi thường cây trồng (chuối) và không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Bị đơn vẫn giữ quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 164; 175 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Dương Văn Đ, bà Võ Thị L, Trần Văn G, Dương Thị Kim P, Trần Thị Oanh K, Trần Quốc C có nghĩa vụ tháo dỡ, phần chiếm không gian mái tol tổng diện tích 1,9m², theo các điểm M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M12, M13, M14, 18, 13 theo sơ đồ do Văn phòng Đ3 Chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024.

Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp với bị đơn về không gian ranh giới qua bất động sản liền kề. Bị đơn và không gian ranh giới qua bất động sản liền kề tọa lạc ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông P1, ông T7, bà D2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử các ông bà có tên nêu trên.

Tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn lại trong vụ án đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy. căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án nêu trên.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp với bị đơn về không gian qua bất động sản liền kề, các bên không tranh chấp về quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về không gian qua bất động sản liền kề” là phù hợp Điều 175 Bộ Luật dân sự là phù hợp với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét, về tranh chấp phần không gian lấn chiếm qua bất động sản liền kề: Nguồn gốc đất hiện bà N4 đang quản lý, sử dụng được cha mẹ chồng để lại và sau đó các anh em thống nhất phân chia đất cho ông Trần Văn L4 là chồng của bà N4 quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1980 cho đến nay, diện tích khoảng 650m², đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi phát sinh tranh chấp về không gian qua bất động sản liền kề với ông Dương Văn Đ, cơ quan chuyên môn đã tiến hành đo đạc diện tích đất thực tế bà N4 quản lý sử dụng là 618,9m², thuộc thửa đất 58, tờ bản đồ 27, phần đất ông Đ quản lý, sử dụng có diện tích 39,2m² ông Đ xây dựng căn nhà ở ổn định từ năm 1982, sau đó có sửa chữa lại căn nhà cũng trên diện tích đất 39,2m² giáp ranh đất với bà N4, phần căn nhà của ông Dương Văn Đ xây dựng mái tol lấn chiếm không gian qua bất động sản liền kề là 1,9m². Vì vậy, bà N4 yêu cầu ông Dương Văn Đ, Võ Thị L, Trần Văn G, Dương Thị Kim P, Trần Thị Oanh K, Trần Quốc C có nghĩa vụ tháo dỡ, mái tol lấn chiếm không gian qua bất động sản liền kề là 1,9m² theo sơ đồ đo đạc hiện trạng do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024. Bị đơn ông Đ cho rằng phần đất này nhận chuyển nhượng từ cụ Lâm Văn K2 và cụ Trần Thị N3 diện tích ngang 6,5m dài 8m khi ông xây dựng nhà là chưa hết diện tích đất nên theo yêu cầu của nguyên đơn ông không đồng ý. Tuy nhiên, diện tích đất ông Đ quản lý, sử dụng trong phạm vi 39,2m², từ năm 1982 cho đến nay, phần đất giáp ranh với bà N4 quản lý sử dụng 618,9m² từ năm 1980 cho đến nay, cả hai đều đã sử dụng ổn định không ai tranh chấp về ranh giới đất cũng như diện tích đất. Đồng thời, những người con của cụ K2 và cụ N3 cho biết các ông bà đều không rõ về nội dung giấy sang nhượng đất nên không có ý kiến đối với lời trình bày của ông Đ, ngoài ra ông Đ không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì khác.

Bên cạnh đó, theo văn bản số 1765/UBND-PTNMT ngày 26/8/2024 cho biết: Phần diện tích đất 618,9m², thửa đất số 58, tờ bản đồ số 27 thể hiện tại các mốc điểm 11, 13, 19, 21, 33, 32, 29, 23, 22, 17, 16, 15 theo sơ đồ hiện trạng khu đất ngày 12/6/2024 của Văn phòng Đ3 Chi nhánh P11 đo đạc nằm trong khu vực đất ở đô thị và thuộc trường hợp được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Theo kết quả đo đạc thực tế hiện trạng và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá tài sản khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai lập ngày 12/06/2024 thể hiện căn nhà ông Đ xây dựng kiên cố, phía sau nhà ông Đ bà N4 trồng chuối và sử dụng đất ổn định, ông Đ không tranh chấp về đất mà bà N4 sử dụng. Mặc dù, phần đất hiện nay bà N4 chưa được cấp quyền sử dụng đất, nhưng nguồn gốc đất này là của cha mẹ chồng để lại đã có quá trình sử dụng ổn định không ai tranh chấp, nên đây là phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà N4. Vì vậy, người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Vậy nên phần mái tol nhà của ông Đ lấn chiếm không gian qua phần đất của bà N4, phần mái tol có thể tháo dỡ mà không làm ảnh hưởng gì đến kết cấu căn nhà của ông Đ.

Do đó, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông Dương Văn Đ, Võ Thị L, Trần Văn G, Dương Thị Kim P, Trần Thị Oanh K, Trần Quốc C có nghĩa vụ tháo dỡ, phần chiếm không gian mái tol tổng diện tích 1,9m², theo sơ đồ do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024 là phù hợp.

[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.

[4] Chi phí tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà N4 có nộp chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản với số tiền 6.892.780 đồng. Do yêu cầu của bà N4 được chấp nhận nên buộc bị đơn hoàn lại tạm ứng chi phí tố tụng cho bà N4 với số tiền 6.892.780 đồng là phù hợp.

Đối với, lệ phí đo đạc ông Đ đã nộp để đo đạc phần đất theo chỉ dẫn của ông Đ là 1.031.400 đồng thì ông phải chịu toàn bộ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Nguyên đơn bà Võ Thị Ánh N là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật nên không phải hoàn trả lại tiền tạm ứng cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, 35; 39; Điều 227; 228; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 164; Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh N đối với ông Dương Văn Đ, bà Võ Thị L, ông Trần Văn G, bà Dương Thị Kim P, bà Trần Thị Oanh K, ông Trần Quốc C.

    Buộc ông Dương Văn Đ, bà Võ Thị L, ông Trần Văn G, bà Dương Thị Kim P, bà Trần Thị Oanh K, ông Trần Quốc C có nghĩa vụ tháo dỡ, phần chiếm không gian mái tol tổng diện tích 1,9m², theo các điểm M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M12, M13, M14, 18, 13 theo sơ đồ do Văn phòng Đ3 Chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024

  2. Sơ đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh P11 lập ngày 12/6/2024 là một phần không tách rời của bản án.
  3. Chi phí tố tụng: ông Dương Văn Đ bà Võ Thị L, ông Trần Văn G, bà Dương Thị Kim P, bà Trần Thị Oanh K, ông Trần Quốc C có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Võ Thị Ánh N số tiền 6.892.780 đồng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Dương Văn Đ, bà Võ Thị L, ông Trần Văn G, bà Dương Thị Kim P, Trần Thị Oanh K, Trần Quốc C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 788/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về không gian qua bất động sản liền kề

  • Số bản án: 788/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về không gian qua bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp bất động sản liền kề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger