|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 788/2024/DS-ST Ngày: 26/9/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Ngọc Thủy
- Ông Lại Hữu Tâm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 585/2024/TLST-DS ngày 02/7/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 754/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 620/2024/QĐST-DS ngày 28/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T.
Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông JIN SEHWAN, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm: 2000 (theo giấy ủy quyền ngày 01/3/2024).
Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: F Ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà A có đơn xin vắng mặt tại Tòa; ông K vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được - nguyên đơn Công ty T có người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị Lan A trình bày:
Ngày 07/9/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số: 3577341 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Lê Văn K với khoản vay trị giá 53.300.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Lê Văn K.
Theo Hợp đồng tín dụng, ông Lê Văn K có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.689.948 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/10/2022 đến ngày 10/9/2025.
Tuy nhiên, sau khi được giải ngân cho đến nay, ông Lê Văn K chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được 10 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 27.019.480 đồng, trong đó: tổng gốc đã trả là: 8.596.373 đồng; tổng lãi đã trả là: 18.303.107 đồng; tổng phí đã trả là: 120.000 đồng).
Kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, ông Lê Văn K không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty. Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Lê Văn K thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Lê Văn K biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Lê Văn K vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T.
Căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì ông Lê Văn K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, cụ thể là không thanh toán đúng hạn số tiền theo quy định của Hợp đồng tín dụng ký kết với Công ty T.
Tính đến ngày 26/9/2024, ông Lê Văn K đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau:
Số tiền gốc: 44.703.627 (bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ ba nghìn sáu trăm hai mươi bảy) đồng.
Số tiền lãi trong hạn: 19.003.923 (mười chín triệu không trăm lẻ ba nghìn chín trăm hai mươi ba) đồng.
Số tiền lãi quá hạn: 6.630.776 (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn bảy trăm bảy mươi sáu) đồng.
Số tiền lãi chậm trả: 1.209.938 (một triệu hai trăm lẻ chín nghìn chín trăm ba mươi tám) đồng.
Tổng cộng là: 71.548.264 (bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi bốn) đồng.
Nay Công ty T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn K thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi), tạm tính đến ngày 26/9/2024 là: 71.548.264 đồng. Đồng thời thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên.
Bị đơn ông Lê Văn K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tổng đạt trực tiếp hợp lệ nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty T khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Lê Văn K, ông K có nơi cư trú tại huyện B nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Lan A đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Lê Văn K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập ông Lê Văn K đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Công ty T với bị đơn ông Lê Văn K nhưng ông K không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, ông Lê Văn K tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông Lê Văn K phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[5] Về nội dung:
Vào ngày 07/9/2022, Công ty T có ký với ông Lê Văn K Hợp đồng tín dụng số: 3577341, về việc cấp tín dụng cho ông Lê Văn K với khoản vay trị giá 53.300.000 (năm mươi ba triệu ba trăm nghìn) đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Lê Văn K. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Lê Văn K có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.689.948 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/10/2022 đến ngày 10/9/2025. Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, ông Lê Văn K chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được 10 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 27.019.480 đồng, trong đó: tổng gốc đã trả là: 8.596.373 đồng; tổng lãi đã trả là: 18.303.107 đồng; tổng phí đã trả là: 120.000 đồng). Từ ngày 12/7/2023, ông Lê Văn K đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân. Mặc dù Công ty T đã dùng mọi biện pháp để liên lạc ông K nhưng ông K vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T. Do ông Lê Văn K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng vay vốn mà hai bên đã ký, tính đến ngày 26/9/2024, ông K còn nợ công ty cụ thể như sau:
Số tiền gốc: 44.703.627 (bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ ba nghìn sáu trăm hai mươi bảy) đồng.
Số tiền lãi trong hạn: 19.003.923 (mười chín triệu không trăm lẻ ba nghìn chín trăm hai mươi ba) đồng.
Số tiền lãi quá hạn: 6.630.776 (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn bảy trăm bảy mươi sáu) đồng.
Số tiền lãi chậm trả: 1.209.938 (một triệu hai trăm lẻ chín nghìn chín trăm ba mươi tám) đồng.
Tổng cộng là: 71.548.264 (bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi bốn) đồng.
[6] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Nguyên đơn Công ty T yêu cầu buộc bị đơn ông Lê Văn K phải có trách nhiệm thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 71.548.264 (bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi bốn) đồng. Trong đó:
Số tiền gốc: 44.703.627 (bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ ba nghìn sáu trăm hai mươi bảy) đồng.
Số tiền lãi trong hạn: 19.003.923 (mười chín triệu không trăm lẻ ba nghìn chín trăm hai mươi ba) đồng.
Số tiền lãi quá hạn: 6.630.776 (sáu triệu sáu trăm ba mươi nghìn bảy trăm bảy mươi sáu) đồng.
Số tiền lãi chậm trả: 1.209.938 (một triệu hai trăm lẻ chín nghìn chín trăm ba mươi tám) đồng.
Ngoài ra, công ty còn yêu cầu Tòa án buộc ông K phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[6.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được Công ty T phê duyệt ngày 07/9/2022 thì giữa khách hàng là ông Lê Văn K và bên Công ty T có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức sử dụng là: 53.300.000 (năm mươi ba triệu ba trăm nghìn) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Căn cứ Báo cáo thu hồi nợ vay Hợp đồng tín dụng do Công ty T cung cấp thì trong quá trình sử dụng thẻ, ông K đã không thanh toán cho công ty. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông K vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên công ty đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và phải chịu lãi trên nợ gốc bị quá hạn, lãi chậm trả theo quy định Hợp đồng tín dụng mà ông K đã ký với Công ty T.
Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...” Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụngđịnh: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Xét bị đơn – ông Lê Văn K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được Công ty T thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho công ty là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng. Do đó, việc Công ty T khởi kiện yêu cầu ông K phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 44.703.627 (bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ ba nghìn sáu trăm hai mươi bảy) đồng là có cơ sở để chấp nhận.
[6.2]. Đối với yêu cầu trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 26/9/2024) là 26.844.637 đồng (tiền lãi trong hạn: 19.003.923 đồng; tiền lãi quá hạn: 6.630.776 đồng; tiền lãi chậm trả: 1.209.938 đồng) và buộc ông K phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “... 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Xét trong quá trình thanh toán nợ cho công ty, bị đơn ông Lê Văn K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và công ty đã chuyển toàn bộ khoản nợ của ông K sang nợ quá hạn là phù hợp.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Công ty T về việc buộc bị đơn ông Lê văn K phải trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 26/9/2024) là 26.844.637 đồng và buộc ông K phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty T là có cơ sở chấp nhận.
[6.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn ông Lê Văn K đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông Lê Văn K vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Công ty T được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Văn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.577.413 (ba triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm mười ba) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) đối với bị đơn ông Lê Văn K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc bị đơn ông Lê Văn K có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 44.703.627 (bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ ba nghìn sáu trăm hai mươi bảy) đồng và tiền lãi là 26.844.637 (hai mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm ba mươi bảy) đồng trong đó (tiền lãi trong hạn: 19.003.923 đồng, tiền lãi quá hạn: 6.630.776 đồng, tiền lãi chậm trả: 1.209.938 đồng). Tổng cộng là 71.548.264 (bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi bốn) đồng, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Văn K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn ông Lê Văn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.577.413 (ba triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm mười ba) đồng.
- - Nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 1.432.878 (một triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi tám) đồng theo biên lai thu số 0004216 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Định |
8
Bản án số 788/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 788/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty tài chính TNHH MTV Mirae Asset - Lê Văn Kha
