TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 787/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 09/4/2025. Về việc “Ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hương Thủy;
Ông Cao Quốc Hưng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 121/2025/TLST-HNGĐ ngày 20/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2791/2025/QĐXXST-DS ngày 24/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An, (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số F Đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà Trần Thị H và ông Nguyễn Ngọc P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 31.2012, quyển 01/2011 ngày 28/02/2012. Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân một thời gian dài. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
Về con chung: Bà H khai bà và ông Nguyễn Ngọc P có 02 người con chung gồm: Nguyễn Tú A (sinh ngày 04/10/2012) và Nguyễn Tâm Al (sinh ngày 07/02/2015). Bà H yêu cầu sau khi ly hôn, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tâm A1, ông P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tú A; hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Hai người tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Đồng thời, bà H có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn ông Nguyễn Ngọc P trình bày: Ông Nguyễn Ngọc P xác nhận những lời trình bày của bà H về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông Nguyễn Ngọc P đồng ý ly hôn; ông cũng đồng ý với yêu cầu của bà H về việc sau khi ly hôn, bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tâm A1 (sinh ngày 07/02/2015), ông là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tú A (sinh ngày 04/10/2012); hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con. Ông và bà H tự thỏa thuận về tài sản chung, hai người không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Ông P cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.
- Theo Bản ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, cháu Nguyễn Tâm A1 (sinh ngày 07/02/2015) trình bày: Nếu cha mẹ cháu ly hôn, không còn sống chung với nhau thì cháu mong muốn được ở chung với mẹ - bà Trần Thị H1.
- Theo Bản ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, cháu Nguyễn Tú A (sinh ngày 04/10/2012) trình bày: Nếu cha mẹ cháu ly hôn, không còn sống chung với nhau thì cháu mong muốn được ở chung với cha – ông Nguyễn Ngọc P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Nguyễn Ngọc P, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét Bản tự khai, Đ đề nghị không hòa giải đoàn tụ và đơn xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn tự nguyện yêu nhau, sau đó có tiến hành kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 31.2012, quyển 01/2011 ngày 28/02/2012. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải hòa, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân nên vợ chồng không có sự gắn kết. Do hai bên hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn là có cơ sở. Mặt khác, tại bản tự khai bị đơn cũng xác định không còn tình cảm và đồng ý ly hôn với nguyên đơn, cả hai đều yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, hai bên không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: Hai bên cùng xác định có 02 (hai) người con chung gồm: Nguyễn Tú A (sinh ngày 04/10/2012) và Nguyễn Tâm A1 (sinh ngày 07/02/2015). Nguyên đơn yêu cầu sau khi ly hôn, giao con chung – cháu Nguyễn Tâm A1 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung – cháu Nguyễn Tú A cho bị đơn nuôi dưỡng; hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi – cháu Tú A có nguyện vọng được sống chung với cha, cháu Tâm A1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, bị đơn cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao con chung – cháu Nguyễn Tâm A1 cho nguyên đơn – bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung – cháu Nguyễn Tú A cho bị đơn – ông Nguyễn Ngọc P nuôi dưỡng; hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Hai bên xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 115, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Nguyễn Ngọc P (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 31.2012, quyển 01/2011, đăng ký ngày 28/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Ngọc P có 02 (hai) người con chung gồm: Nguyễn Tú A (sinh ngày 04/10/2012) và Nguyễn Tâm A1 (sinh ngày 07/02/2015). Công nhận sự thỏa thuận giữa bà H và ông P về việc: Giao con chung – cháu Nguyễn Tâm A1 (sinh ngày 07/02/2015) cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục; giao con chung – cháu Nguyễn Tú A (sinh ngày 04/10/2012) cho ông Nguyễn Ngọc P trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trần Thị H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0079126 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Trần Thị H, ông Nguyễn Ngọc P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
- Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Thị Ngọc Phú |
Bản án số 787/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 787/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị H yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Ngọc P
