Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 786/2024/HS-PT

Ngày 21/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Văn Tuyển;
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;
Ông Phùng Hải Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 790/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 06/10/1983; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ địa chính xã P, hiện là cán bộ địa chính xã B, huyện S; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Kỹ sư; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ1 (Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 158-QĐ/UBKTHU ngày 14/9/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy S3); con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Lã Thị M và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Trần Quốc T1, sinh ngày 31/7/1977; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Ủy viên Ban Thường vụ đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND xã P, huyện S; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Cử nhân Kinh tế; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ1 (Đã bị đình chỉ sinh hoạt cấp ủy theo Quyết định số 83/QĐ/UBKTHU ngày 10/3/2022 và đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 157-QĐ/UBKTHU ngày 14/9/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy S3); con ông Trần Xuân S và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1949; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/10/2013, Ủy ban nhân dân Thành phố H (sau đây viết tắt là UBND) có Quyết định số 16442/QĐ-UBND phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm y tế huyện S (sau đây viết tắt là Dự án). Ngày 25/9/2014, UBND huyện S3 có Thông báo số 349/TB-UBND về việc thu hồi đất thực hiện Dự án tại khu vực cánh đồng M, thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Ngày 26/02/2016, UBND huyện S3 có Quyết định số 389/QĐ-UBND về việc kiện toàn thành viên Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện Dự án. Ngày 14/3/2016, UBND huyện S3 có Quyết định số 510/QĐ-UBND về việc kiện toàn Tổ công tác giúp việc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện Dự án gồm 13 thành viên do Trần Quốc T1, Phó Chủ tịch UBND xã P làm tổ trưởng; Nguyễn Văn T, cán bộ địa chính xã; ông Nguyễn Đức P, Trưởng công an xã; ông Trần Quyết T4, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã; ông Nguyễn Ngọc H1, cán bộ Thanh tra xây dựng; ông Phạm Văn T5, cán bộ Văn phòng xã; bà Phạm Thị N1, Trưởng thôn P; ông Phạm Văn T6, Phạm Văn T7 - Đội trưởng đội sản xuất; ông Trần Văn T8 và Phạm Hữu V - Cán bộ Ban Quản lý dự án huyện làm tổ viên. Tại Điều 2 của Quyết định số 510/QĐ-UBND ngày 14/3/2016 của UBND huyện S3 quy định: “Tổ công tác có trách nhiệm tổ chức điều tra, phúc tra hiện trạng và lập biên bản điều tra xác minh diện tích đất và số lượng chủng loại, tài sản gắn liền với đất trong chỉ giới thu hồi đất của từng chủ sử dụng nhà đất, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của số liệu điều tra...”,

Ngày 28/3/2016, UBND xã P có Quyết định số 134/QĐ-UBND do ông Lê Văn Q, Chủ tịch UBND xã ký thành lập Hội đồng tư vấn (sau đây viết tắt là HĐTV) xác định nguồn gốc đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng (sau đây viết tắt là GPMB) Dự án gồm gồm 13 thành viên do ông Lê Văn Q, Chủ tịch hội đồng; Trần Quốc T1, Phó chủ tịch thường trực; ông Nguyễn Văn H2, Cán bộ địa chính làm ủy viên thường trực; Nguyễn Văn T, Cán bộ địa chính ủy viên; ông Trần Quyết T4, Chủ tịch MTTQ xã; ông Nguyễn Đức P, Trưởng Công an xã; bà Nguyễn Thị H3, bà Trần Thị L - Cán bộ tư pháp xã; ông Nguyễn Văn T9, Cán bộ tài chính xã; ông Phạm Văn T5 và ông Nguyễn Xuân H4 - Cán bộ Văn phòng xã; ông Vũ Hồng Q1, Cán bộ địa chính; bà Đỗ Thị Hường T10, Cán bộ Thanh tra xây dựng xã và có sự tham gia của các ông, bà là Trưởng thôn, Bí thư chi bộ thôn, Tổ trưởng tổ sản xuất các thôn thuộc Dự án làm ủy viên HĐTV. Điều 2 của Quyết định này quy định: “HĐTV xã có trách nhiệm xác định chính xác, khách quan, đúng thực tế về loại đất, nguồn gốc sử dụng và thời điểm bắt đầu sử dụng đất, thời điểm tạo lập tài sản gắn liền với đất, tình trạng tranh chấp đất đai...”.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Trần Quốc T1, Tổ trưởng tổ giúp việc HĐBT giao cho Nguyễn Văn T, Cán bộ địa chính xã cùng bà Phạm Thị N1, Trưởng thôn Phù M1 và ông Phạm Văn T7, Phạm Văn T6, Tổ trưởng tổ sản xuất lập danh sách chủ sử dụng đất, diện tích đất nằm trong diện tích thu hồi Dự án. Ngày 16/6/2016, Tổ công tác đã lập Biên bản điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất phục vụ công tác GPMB.

Ngày 25/6/2016, căn cứ danh sách theo Biên bản điều tra, khảo sát, kiểm đếm đất đai, Hội đồng tư vấn xác định nguồn gốc đất đã họp và thống nhất có 49 thửa đất với tổng diện tích 10.894,4m² đều là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP của Chính phủ cho các hộ gia đình, cá nhân tại thôn P, xã P.

Ngày 09/9/2016, UBND huyện S3 có Quyết định số 4971/QĐ- UBND về việc phê duyệt 49 phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phục vụ GPMB; trong đó có 48 phương án là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP với tổng diện tích 10.818m² và 01 phương án là đất công do UBND xã P quản lý với diện tích 76,4m²; Quyết định số 4972/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tiền thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng và ngày 26/12/2016 có Quyết định số 7419/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất phục vụ GPMB Dự án, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 11.998.494.350 đồng.

Tuy nhiên, trong số 49 phương án đền bù đất cho “Dự án”, UBND xã P đã xác nhận sai nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất của 02 hộ gia đình, cụ thể:

  1. Hộ gia đình ông Phạm Văn T11: Diện tích 157,4m², tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 01 - Theo trích đo bản đồ địa chính khu đất Dự án do Công ty cổ phần Đ2 đo đạc năm 2016. Thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 08, xã P, có ký hiệu “M” nằm trong diện tích đất bị thu hồi cho Dự án là đất công do UBND xã P quản lý. Tuy nhiên, thửa đất trên được UBND xã P xác nhận là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP vào năm 1999 cho hộ gia đình ông Phạm Văn T11 theo Biên bản xác nhận số 47/XN-UBND ngày 27/6/2016 của UBND xã P do Nguyễn Văn T lập và trình Trần Quốc T1 ký đóng dấu. Hộ gia đình ông Phạm Văn T11 đã được nhận tiền đền bù số tổng số tiền là 179.602.500 đồng gồm: “Đền bù về đất: 25.498.800 đồng; ổn định đời sống: 24.624.000 đồng; tiền hỗ trợ đào tạo nghề: 127.494.000 đồng; tiền tài sản trên đất 1.652.700 đồng; tiền thưởng tiến độ 333.000 đồng”.
  2. Hộ gia đình bà Phạm Thị T3: Diện tích 111m², tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 01 - Theo trích đo bản đồ địa chính khu đất Dự án do Công ty cổ phần Đ2 đo đạc năm 2016. Thửa đất trên một phần thuộc thửa số 1892, có ký hiệu “Ao” và một phần thuộc thửa đất có ký hiệu “M” thuộc tờ bản đồ số 08 xã P, nằm trong diện tích đất bị thu hồi cho Dự án là đất công do UBND xã P quản lý. Tuy nhiên, thửa đất trên được UBND xã xác nhận là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP vào năm 1999 cho bà Phạm Thị T3 theo Biên bản xác nhận số 42/XN-UBND ngày 27/6/2016 của UBND xã P. Hộ gia đình bà Phạm Thị T3 đã được nhận tiền đền bù số tiền là 125.806.500 đồng gồm: “Bồi thường về đất: 17.982.000 đồng; tài sản trên đất: 1.165.500 đồng; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp: 89.910.000 đồng; tiền ổn định đời sống 16.416.000 đồng; thưởng tiến độ 333.000 đồng”.

Tổng số tiền hộ gia đình ông Phạm Văn T11 và bà Phạm Thị T3 đã được nhận đền bù là 305.548.200 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H: Sở T còn lưu trữ Tờ bản đồ có danh pháp F-48a-104-(89-B) của xã P, huyện S đo vẽ tháng 12/1992 (Được vẽ trên giấy Diamat, không đánh số tờ), trong đó thể hiện vị trí, hình thể 02 thửa đất gần giống 02 thửa đất tại Tờ bản đồ số 08 (Bản photo lưu trữ tại UBND xã P). Tại tờ bản đồ F-48a-104-(89-B) có thửa đất số 2615 có cùng diện tích với thửa đất có ký hiệu “Ao” với diện tích 586m² tại thửa đất số 1892 tờ bản đồ số 08. Việc đánh số không đồng nhất như trên do tờ bản đồ số 08 là bản đồ được can vẽ lại từ bản đồ gốc địa chính được vẽ trên chất liệu giấy Diamat và được đánh số lại. Tuy nhiên, bản đồ giấy được can vẽ lại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H không còn lưu trữ. Theo quy định về ký hiệu bản đồ thì thửa đất có ký hiệu “Ao” là loại đất ao và thửa đất có ký hiệu “M” là đất mương.

Xác minh tại UBND xã P: UBND xã P lưu trữ tờ bản đồ địa chính đất nông nghiệp số 08 xã P, tỷ lệ 1:2000 được Sở Địa chính Hà Nội phê duyệt ngày 26/11/1996. Tại tờ bản đồ số 08 thể hiện nội dung: “Bản đồ giao UBND phường, xã, thị trấn để quản lý đất và sử dụng xét cấp Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất ở, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (theo Nghị định 64/CP)” Khi thực hiện Nghị định 64/CP thôn P không thực hiện được do không lấy được diện tích đất nông nghiệp của các hộ gia đình thừa đất để chia cho các hộ gia đình thiếu đất nông nghiệp hoặc chưa được chia đất nông nghiệp; đến năm 2012 - 2013 do vướng quy hoạch nên cũng không thực hiện được việc dồn điền đổi thửa. Do đó, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp không thay đổi từ năm 1986 đến nay. UBND xã P chỉ có hệ thống bản đồ đo vẽ năm 1993, được Sở Địa chính thành phố Hà Nội phê duyệt năm 1996, trong đó đất thổ cư gồm 27 tờ; đất nông nghiệp gồm 08 tờ từ số 01 đến số 08; các tờ bản đồ đều không có sổ mục kê kèm theo. Đây là căn cứ để UBND xã quản lý, sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa phương. Khu vực cánh đồng Mục Bài thuộc tờ bản đồ số 08; thửa đất 1892 diện tích 586m² có ký hiệu là “Ao” và thửa đất có ký hiệu là M (Phía Bắc giáp thửa số 1892, 1904, 1906 và phía Nam giáp Xí nghiệp Cao lãnh sứ gốm).

Xác minh tại Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện S: Đối với các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc tự khai hoang (Trước và sau ngày 15/10/1993), đất nông nghiệp không được nhà nước giao, người dân tự sử dụng đều là đất công do UBND xã quản lý thì căn cứ Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ và Điều 20 Quyết định 23/2014-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố H về thu hồi đất, các hộ được bồi thường 03 khoản tiền: Tiền hỗ trợ mặt bằng (Hỗ trợ mức giá đất nông nghiệp theo bảng giá đất của UBND thành phố); tiền hỗ trợ tài sản trên đất và tiền thưởng tiến độ. Không được hỗ trợ 02 khoản: Ổn định đời sống; đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và hỗ trợ tìm việc. Đối với hộ gia đình sử dụng đất công “Ao, M2...” nhà nước thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển xã hội... thì không được được bồi thường theo quy định tại Điều 74, Điều 75 Luật Đất đai năm 2013.

Xác minh, lấy lời khai của bà Phạm Thị T3, ông Phạm Văn T11 thể hiện: Các ông, bà không được giao ruộng với các phần diện tích nêu trên theo Nghị định 64/CP; phần diện tích này do các gia đình tự khai hoang trên diện tích đất công do UBND xã quản lý vào khoảng năm 1986. Phần diện tích đất của hộ ông Phạm Văn T11 là mương, đến khoảng năm 1990-1993 gia đình ông T11 san lấp hệ thống mương. Sau khi vỡ hoang thì hộ gia đình bà T3 và hộ ông T11 cấy lúa, trồng cây trên diện tích đất này, đến năm 2012 được Đội trưởng đội sản xuất, Trưởng thôn ký giấy công nhận và ghi là giao cho gia đình từ năm 1986. Số tiền đền bù, hỗ trợ gia đình các ông, bà đã nhận đầy đủ theo phương án được duyệt, không phải chia cho ai. Thực tế, quá trình kiểm đếm đất đai của HĐBT các hộ gia đình không có mặt, giấy tờ được các ông bà T7, T6 đưa đến ký để hoàn thiện.

Lời khai của các thành viên Hội đồng tư vấn xác định nguồn gốc đất thể hiện: Khoảng tháng 5/2016, khi thực hiện kiểm tra, đo đạc hiện trạng, xác định vị trí, ranh giới các thửa đất bị thu hồi có Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị N1 cùng các ông Phạm Văn T7, Phạm Văn T6 - Là Đội trưởng Đội sản xuất số 05, số F thôn P, xã P thực hiện. Hiện trạng khu vực đất ngập nước khoảng 1/3 diện tích đất bị thu hồi, bị cáo Nguyễn Văn T chỉ ra thực tế hiện trạng một lúc, do có việc bận nên việc đo đạc, kiểm tra hiện trạng, xác định nguồn gốc đất giao cho bà N1, ông T7, ông T6 thực hiện. Sau khi tiến hành kiểm đếm, lập Biên bản kiểm kê đất đai có chữ ký xác nhận của các hộ gia đình, Nguyễn Văn T tham mưu cho UBND xã P tổ chức Hội nghị họp xác định nguồn gốc đất, loại đất. Ngoài T thì bà N1 cùng ông T7, ông T6 là người trực tiếp kiểm tra thực tế, đo đạc hiện trạng đất thu hồi tại Dự án, các thành viên HĐTV xác định nguồn gốc đất chỉ ký xác nhận vào biên bản cuộc họp, thực tế không tham gia kiểm tra hiện trạng.

Bị cáo Nguyễn Văn T khai: Là cán bộ công chức địa chính xã, khi triển khai Dự án, T được giao nhiệm vụ điều tra, kiểm tra quy chủ. Quá trình thực hiện T đã không đối chiếu bản đồ địa chính đất nông nghiệp xã P, không thu thập các giấy tờ xác định nguồn gốc đất của các hộ gia đình, nên đã xác định sai nguồn gốc đất của hộ gia đình bà Phạm Thị T3 và hộ gia đình ông Phạm Văn T11 là đất được giao theo Nghị định 64/CP. T lập danh sách các hộ gia đình được hỗ trợ trình HĐTV họp thông qua và làm căn cứ để xác nhận nguồn gốc đất trình Trần Quốc T1, Phó Chủ tịch, Tổ trưởng ký xác nhận.

Trần Quốc T1 khai: Đã tin tưởng vào Nguyễn Văn T và HĐTV xác định nguồn gốc đất, thiếu trách nhiệm không kiểm tra lại quá trình kiểm tra hiện trạng, kiểm tra các tài liệu giấy tờ xác định nguồn gốc đất, đã xác nhận sai nguồn gốc đất từ đất công do UBND xã quản lý thành đất giao theo Nghị định 64/CP cho hộ gia đình bà T3 và ông T11.

Như vậy, Thửa đất của hộ gia đình bà Phạm Thị T3 và hộ gia đình ông Phạm Văn T11 thuộc đất công do UBND xã quản lý, khi thu hồi đất phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội nên không được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 74, Điều 75 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, tại điểm a khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai 2013 quy định: “Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã”, theo các quy định nêu trên thì hộ gia đình bà T3 và ông T11 chỉ được hỗ trợ bồi thường về tiền tài sản trên đất, tiền thưởng tiến độ (Cụ thể: Hộ ông T11 2.124.900 đồng, hộ bà T3 1.498.500 đồng), không được bồi thường các khoản: Đất, hỗ trợ chuyển đồi nghề, ổn định đời sống; Việc xác nhận sai nguồn gốc đất dẫn đến bồi thường sai 03 khoản tiền nêu trên đã gây thiệt hại cho nhà nước tổng số tiền 301.924.800 đồng, gồm số tiền bồi thường sai cho hộ gia đình bà T3 là 125.806.500 đồng - tài sản trên đất: 1.165.500 đồng - thưởng tiến độ 333.000 đồng = 124.308.000 đồng; hộ gia đình ông T11 là 179.602.500 đồng - 1.652.700 đồng (tiền tài sản trên đất) - 333.000 đồng (tiền thưởng tiến độ) = 177.616.800 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 230; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 36 (Ba sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 360; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Quốc T1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

Về biện pháp tư pháp:

- Hoàn trả cho Ủy ban nhân dân huyện S3, Thành phố Hà Nội 301.924.800 đồng do các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Quốc T1 mỗi bị cáo đã nộp ½ số tiền.

- Buộc ông Phạm Văn T11 phải nộp lại 177.616.800 đồng, buộc bà Phạm Thị T3 phải nộp lại 124.308.000 đồng. H5 lại số tiền do ông Phạm Văn T11 và bà Phạm Thị T3 buộc phải nộp trên đây cho các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Quốc T1, mỗi bị cáo 150.962.400 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, biện pháp bảo đảm thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 04/6/2024, các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 cùng có đơn kháng cáo đều với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 10/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T3 có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, theo đó, bà không đồng ý quyết định của bản án sơ thẩm buộc bà phải nộp lại số tiền 124.308.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 thay đổi nội dung kháng cáo từ xin giảm nhẹ hình phạt thành xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T3 giữ nguyên kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) xem xét chấp nhận kháng cáo của bà, không buộc bà phải nộp lại số tiền 124.308.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”, xét xử bị cáo Trần Quốc T1 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, mức hình phạt là tương xứng.

Tuy nhiên, bị cáo Trần Quốc T1 xuất phát từ việc tin tưởng cấp dưới, thiếu trách nhiệm khi không kiểm tra lại tài liệu, hồ sơ nên tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có phần hạn chế hơn; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới, do đó có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T là người trực tiếp lập danh sách chủ sử dụng đất, diện tích đất bị thu hồi, tiến hành điều tra, kiểm tra quy chủ đã không đối chiếu tài liệu, sổ sách, thu thập giấy tờ dẫn tới xác định sai nguồn gốc sử dụng đất của các hộ gia đình, gây hậu quả nghiêm trọng, do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng tính chất, mức độ hành vi.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc 02 hộ gia đình được nhận đền bù không đúng quy định phải nộp lại khoản tiền đã được nhận đền bù không đúng để hoàn trả lại cho Nhà nước là có căn cứ, kháng cáo của bà Phạm Thị T3 là không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là bà Phạm Thị T3 vắng mặt không rõ lý do, không có cơ sở xác định việc bà T3 vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiếp tục tiến hành xét xử.

[2]. Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 26/02/2016, để triển khai và thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm y tế huyện S do UBND thành phố H phê duyệt, UBND huyện S3 ban hành Quyết định số 510/QĐ-UBND để kiện toàn Tổ công tác giúp việc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án; theo đó, thì Trần Quốc T1, Phó Chủ tịch UBND xã P là Tổ trưởng; Nguyễn Văn T, Cán bộ địa chính xã P là Tổ viên Tổ công tác. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ Nguyễn Văn T đã có hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý đất đai, không đối chiếu bản đồ theo dõi đất nông nghiệp do địa phương quản lý, không yêu cầu các hộ dân cung cấp giấy tờ về đất, đã xác nhận sai nguồn gốc đất, từ đất công (là đất ao, đất mương) do UBND xã P, huyện S quản lý thành đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP cho hộ gia đình ông Phạm Văn T11 và hộ gia đình bà Phạm Thị T3. Trên cơ sở đó, Nguyễn Văn T đã báo cáo và trình Trần Quốc T1, Phó Chủ tịch UBND xã P; do tin tưởng Hội đồng tư vấn xã và cán bộ địa chính Nguyễn Văn T, bị cáo Trần Quốc T1 đã thiếu trách nhiệm khi không kiểm tra tài liệu, hồ sơ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, đã ký xác nhận sai nguồn gốc đất; từ đó ký báo cáo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng huyện S thực hiện chi đền bù cho 02 hộ dân nói trên sai quy định pháp luật đối với 03 khoản bồi thường gồm: Bồi thường về đất; hỗ trợ chuyển đổi nghề; ổn định đời sống, gây thiệt hại cho Nhà nước 301.924.800 đồng; trong đó, số tiền bồi thường sai cho hộ gia đình bà Phạm Thị T3 là 124.308.000 đồng; cho hộ gia đình ông Phạm Văn T11 là 177.616.800 đồng.

Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” theo điểm đ khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Trần Quốc T1 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1, HĐXX thấy:

[3.1]. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T, mặc dù được giao nhiệm vụ điều tra, kiểm tra quy chủ nhưng quá trình thực hiện đã không đối chiếu hồ sơ, sổ sách, tài liệu quản lý địa chính tại địa phương, không tiến hành thu thập các giấy tờ, tài liệu chứng minh nguồn gốc sử dụng đất của các hộ gia đình dẫn tới xác định sai nguồn gốc sử dụng đất của 02 hộ gia đình, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, đã xâm phạm trật tự trị an, an toàn quản lý hành chính. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng và đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm một số tài liệu mới thể hiện bị cáo được UBND xã V đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, UBND xã V cũng đồng thời xác nhận ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú và làm việc; bị cáo có nhiều công sức đóng góp trong công tác dồn điền đổi thửa và xây dựng phong trào nông thôn mới đạt chuẩn tại địa phương; gia đình bị cáo có công với cách mạng, bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn Đ đã tham gia lực lượng vũ trang bảo vệ biên giới phía Bắc, sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương giữ nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh chính trị của địa phương và được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen; bố vợ bị cáo là ông Lã Văn S1 đã từng tham gia quân ngũ, quá trình công tác được tặng nhiều bằng khen, giấy khen, huân, huy chương; bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi dạy 02 con nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng và sinh sống ổn định tại địa phương; hành vi phạm tội của bị cáo không vì mục đích trục lợi, đã tự giác, kịp thời khắc phục hậu quả toàn bộ thiệt hại, không để thất thoát ngân sách Nhà nước; bị cáo còn được UBND huyện S3 có văn bản đề nghị Tòa án xem xét, đánh giá lại tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, bối cảnh xảy ra vụ án, một phần nguyên nhân khách quan là do hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương không đầy đủ, từ đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây đều là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo, thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra thực sự ăn năn, hối hận về hành vi, cùng với việc mặc dù phạm tội do không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao nhưng bị cáo không vụ lợi, chiếm hưởng cá nhân hay lợi ích vật chất nào khác; thiệt hại của Nhà nước cũng đã được bị cáo cùng Trần Quốc T1 khắc phục toàn bộ, bị cáo bị truy tố, xét xử khi gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 301.924.800 đồng, tương đương với mức thấp nhất của tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự: “Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng”. Vì vậy, việc cho bị cáo được tự cải tạo tại địa phương không gây nguy hại cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự, chính trị tại địa phương nên HĐXX sẽ xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dài đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[3.2]. Đối với bị cáo Trần Quốc T1, do tin tưởng cấp dưới và Hội đồng tư vấn xã nên đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, rà soát, đối chiếu tài liệu, hồ sơ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất gây hậu quả thiệt hại cho Nhà nước, trên thực tế, bị cáo không phải là người trực tiếp đi đo đạc, xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất. Bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra thực sự ăn năn hối cải; tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị cáo cùng Nguyễn Văn T cũng đã bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho Nhà nước; trong quá trình công tác, bị cáo cũng đã có nhiều thành tích, đóng góp cho địa phương và đã được tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua; gia đình bị cáo có công với cách mạng; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình của bị cáo thể hiện bị cáo hiện đang phải nuôi 03 con nhỏ chưa thành niên và phụng dưỡng mẹ già, ngoài hành vi phạm tội lần này, bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, bị cáo có nơi cư trú ổn định; bị cáo được UBND xã P là nơi bị cáo công tác trước khi phạm tội có văn bản nêu quá trình công tác luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được đồng nghiệp quý mến và tôn trọng, được nhân dân trong xã đánh giá tốt trong quá trình công tác, hành vi phạm tội của bị cáo không nhằm mục đích trục lợi cá nhân, đã kịp thời bồi thường, khắc phục hậu quả, không làm thất thoát ngân sách Nhà nước, vì vậy UBND xã P đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo được hưởng án treo; Bị cáo cũng được UBND huyện S3 có văn bản đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cùng bị cáo Nguyễn Văn T; Gia đình bị cáo có công với cách mạng, bố đẻ bị cáo là ông Trần Xuân S ngoài việc được tặng thưởng nhiều Bằng khen như Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận còn được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị N được tặng Giấy khen vì đã có thành tích chấp hành tốt chính sách hậu phương; mẹ vợ bị cáo là bà Đỗ Thị S2 từng tham gia dân công hỏa tuyến, được hưởng chế độ trợ cấp; vợ bị cáo quá trình công tác được tặng thưởng nhiều giấy khen; Đây đều là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà HĐXX phúc thẩm xem xét, áp dụng thêm cho bị cáo. Xem xét khách quan, toàn diện vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, HĐXX thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; tương tự như bị cáo Nguyễn Văn T, việc cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo không làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật, không gây nguy hại, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[4]. Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T3, HĐXX thấy:

Như đã phân tích kể trên, các bị cáo không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của mình dẫn tới thực hiện bồi thường, hỗ trợ đối với 02 hộ gia đình liên quan đến 03 khoản bồi thường gồm Bồi thường về đất; hỗ trợ chuyển đổi nghề; ổn định đời sống không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 301.924.800 đồng, trong đó, số tiền bồi thường sai cho hộ gia đình bà Phạm Thị T3 là 124.308.000 đồng.

Theo quy định tại Điều 74, Điều 75, Điều 76 Luật Đất đai năm 2013, thửa đất của hộ gia đình bà Phạm Thị T3 thuộc đất công do UBND xã quản lý, việc thu hồi đất để phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội, không được bồi thường về đất, hỗ trợ chuyển đổi nghề; ổn định đời sống mà chỉ được hỗ trợ bồi thường về tiền tài sản trên đất, tiền thưởng tiến độ. Nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Phạm Thị T3 phải nộp lại số tiền 124.308.000 đồng đã nhận bồi thường không đúng quy định pháp luật để hoàn trả lại ngân sách Nhà nước là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Do các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 đã nộp lại toàn bộ số tiền thiệt hại của Nhà nước là 301.924.800 đồng nên số tiền 02 hộ gia đình phải nộp, Tòa án cấp sơ thẩm hoàn trả lại cho các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 là có căn cứ. Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhâjn kháng cáo của bà Phạm Thị T3.

[5] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Mặc dù kháng cáo không được chấp nhận nhưng do bà Phạm Thị T3 là người cao tuổi nên HĐXX phúc thẩm miễn án phí phúc thẩm cho bà Phạm Thị T3.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:
    • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 230; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 36 (Ba sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”, nhưng cho bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • - Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Quốc T1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, nhưng cho bị cáo Trần Quốc T1 được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • Giao bị cáo Trần Quốc T1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T3; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 287/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần biện pháp tư pháp đối với bà Phạm Thị T3, cụ thể:
    • - Hoàn trả cho Ủy ban nhân dân huyện S3, Thành phố Hà Nội 301.924.800 đồng do các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Quốc T1 mỗi bị cáo đã nộp ½ số tiền.
    • - Buộc ông Phạm Văn T11 phải nộp lại 177.616.800 đồng, buộc bà Phạm Thị T3 phải nộp lại 124.308.000 đồng. H5 lại số tiền do ông Phạm Văn T11 và bà Phạm Thị T3 buộc phải nộp trên đây cho các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Quốc T1, mỗi bị cáo 150.962.400 đồng.
    • Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất phát sinh trên số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Miễn án phí phúc thẩm cho bà Phạm Thị T3.
  4. Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 mỗi bị cáo đã nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm lần lượt tại các Biên lai số 0023441 và 0065546 cùng ngày 28/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Xác nhận các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Quốc T1 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Các bị cáo (theo địa chỉ);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • Phạm Thị Thiết (theo đ/c);
  • - UBND xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn,
  • thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Việt Long, huyện Sóc Sơn,
  • thành phố Hà Nội;
  • - Lưu: P. HCTP, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 786/2024/HS-PT ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 786/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 26/02/2016, để triển khai và thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm y tế huyện S do UBND thành phố H phê duyệt, UBND huyện S ban hành Quyết định số 510/QĐ-UBND để kiện toàn Tổ công tác giúp việc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án; theo đó, thì Trần Quốc T, Phó Chủ tịch UBND xã P là Tổ trưởng; Nguyễn Văn T1, Cán bộ địa chính xã P là Tổ viên Tổ công tác. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ Nguyễn Văn T1 đã có hành vi vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý đất đai, không đối chiếu bản đồ theo dõi đất nông nghiệp do địa phương quản lý, không yêu cầu các hộ dân cung cấp giấy tờ về đất, đã xác nhận sai nguồn gốc đất, từ đất công (là đất ao, đất mương) do UBND xã P, huyện S quản lý thành đất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP cho hộ gia đình ông Phạm Văn T2 và hộ gia đình bà Phạm Thị T3. Trên cơ sở đó, Nguyễn Văn T1 đã báo cáo và trình Trần Quốc T, Phó Chủ tịch UBND xã P; do tin tưởng Hội đồng tư vấn xã và cán bộ địa chính Nguyễn Văn T1, bị cáo Trần Quốc T đã thiếu trách nhiệm khi không kiểm tra tài liệu, hồ sơ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, đã ký xác nhận sai nguồn gốc đất; từ đó ký báo cáo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng huyện S thực hiện chi đền bù cho 02 hộ dân nói trên sai quy định pháp luật đối với 03 khoản bồi thường gồm: Bồi thường về đất; hỗ trợ chuyển đổi nghề; ổn định đời sống, gây thiệt hại cho Nhà nước 301.924.800 đồng; trong đó, số tiền bồi thường sai cho hộ gia đình bà Phạm Thị T3 là 124.308.000 đồng; cho hộ gia đình ông Phạm Văn T2 là 177.616.800 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger