Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 786/2024/HS-PT

Ngày 04 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các thẩm phán: Ông Đỗ Đình Thanh
Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn – Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 582/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Đình V, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Đình V, sinh năm 1957 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 7, ấp Hương Phước, xã Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Tổ 8, ấp Láng Lớn, xã Xuân Mỹ, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đình Trương (chết) và bà Dân Thị Năm (chết); Có vợ tên Lê Thị Kim Anh và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị bắt tạm giữ khẩn cấp từ ngày 10/02/2018 đến ngày 13/02/2018 chuyển sang tạm giam đến ngày 05/10/2018 hủy bỏ tạm giam thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng Nghĩa, Văn phòng luật sư Đoàn Trọng Nghĩa thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;

Ngoài ra còn có bị án Hồng Bích P và người bị hại Đỗ Hoàng A không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2017, Lê Minh C thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ bảo vệ Bảo Long Minh có trụ sở tại Phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An nhưng không hoạt động bảo vệ mà để làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tháng 01/2018, C bàn bạc với bị cáo Bùi Đình V làm giả chứng minh nhân dân rồi đem xe ô tô không rõ nguồn gốc đi cầm cố lấy tiền chia nhau xài, nếu cầm dưới 01 tỷ đồng/xe thì C chia cho V 15.000.000 đồng, nếu cầm được trên 01 tỷ đồng/xe thì chia cho V 20.000.000 đồng.

V đưa cho C 04 tấm hình của V để C sử dụng hình ảnh của V làm giả bản sao giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn H và làm giả giấy chứng nhận đăng ký và giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô không rõ nguồn gốc nhãn hiệu Toyota Venza gắn biển số giả 51A-688.65 và xe Toyota Sienna gắn biển số giả 51A-480.01 đều mang tên Nguyễn Văn H. Sau đó, C gửi thông tin các giấy tờ (giả) của hai xe ô tô trên nhờ anh Lý Hòa T tìm người nhận cầm cố xe. Do không biết xe và giấy tờ giả nên anh T giới thiệu cho bị hại Đỗ Hoàng A nhận cầm xe.

Ngày 01/02/2018, C điều khiển xe ô tô không rõ nguồn gốc nhãn hiệu Toyota Venza gắn biển số giả 51A-688.65 chở Hồng Bích P (là vợ của C) cùng bị cáo V đến vòng xoay Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa thì C và P xuống xe, giao xe cho Bùi Đình V cùng các giấy tờ giả gồm chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn H (mang hình của Bùi Đình V), giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090871, giấy chứng nhận bảo hiểm số BB 170192321 ngày 30/01/2018; đồng thời C cho V số điện thoại của anh T. V điện thoại liên lạc hẹn anh T tại bồn nước Khu công nghiệp Biên Hòa, theo chỉ dẫn của T, V điều khiển xe ô tô không rõ nguồn gốc nhãn hiệu Toyota Venza gắn biển số giả 51A-688.65 và giấy tờ giả đến cầm cho ông Đỗ Hoàng A lấy 600.000.000 đồng, cầm xe xong thì T điều khiển xe gắn máy chở V đến Siêu thị Big C phường Long Bình Tân gặp P, rồi T điều khiển xe gắn máy về nhà. Bị cáo V và P đón taxi đến Siêu thị CoopMart Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, trên taxi, V đưa 600.000.000 đồng cho P, P đưa lại cho V 15.000.000 đồng thì V xuống xe đi về.

Đến ngày 09/02/2018, tại khu dân cư Part Reverside, C giao cho V xe ô tô không rõ nguồn gốc nhãn hiệu Toyota Sienna gắn biển số giả 51A-480.01 chở C và P đến Siêu thị CoopMart Quận 9 thì C và P xuống xe. V chở T đến nhà ông Đỗ Hoàng A để tiếp tục cầm chiếc xe Toyota Sienna gắn biển số giả 51A-480.01 với giá 2.200.000.000 đồng. Sau khi xem giấy tờ xe, ông Hoàng A nói cho V biết là xe sử dụng giấy tờ giả, nên V thương lượng sẽ về lấy 600.000.000 đồng (tiền đã cầm xe Toyota Venza gắn biển số giả 51A-688.65) để trả lại cho ông Hoàng A. Sau đó, V và T đi taxi đến cầu Đồng Nai thì đón P cùng về Thành phố Hồ Chí Minh thì V nói cho C biết là ông Hoàng A đang giữ xe Toyota Sienna gắn biển số giả 51A-480.01 nên C cùng V đến trình báo sự việc cho Công an phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa nhằm mục đích để lấy lại hai xe ô tô thì bị Công an tỉnh Đồng Nai phát hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đã tạm giữ Bùi Đình V. Lê Minh C bỏ trốn, đến ngày 01/8/2018 thì bị bắt.

Cơ quan điều tra khám xét thu giữ tại nhà của Lê Minh C các công cụ, phương tiện, máy in, mực in phục vụ việc làm giấy tờ giả. Đồng thời đã thu giữ vật chứng gồm Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 092803 ngày 20/10/2015; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090871 ngày 15/02/2016; Giấy chứng nhận kiểm định số No 4152592 ngày 08/12/2017; Giấy chứng nhận kiểm định số No 4156239 ngày 05/01/2018; 01 xe ô tô hiệu Toyota Sienna màu đỏ, số máy 2GR7661289, số khung 5TDKK3DC8FS609660 gắn biển số giả 51A-480.01; 01 xe ô tô hiệu Toyota Venza màu đen, số máy 1AR0249491, số khung 4T3ZA3BB4AU025758 gắn biển số giả 51A-688.65; 05 điện thoại di động và nhiều giấy tờ khác.

Bản kết luận giám định số 4086/C09B ngày 18/10/2018 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 092803 ngày 20/10/2015; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090871 ngày 15/02/2016; Giấy chứng nhận kiểm định số No 4152592 ngày 08/12/2017; Giấy chứng nhận kiểm định số No 4156239 ngày 05/01/2018 đều là giả.

Bản kết luận giám định số 104/KLGĐ-PC54(Đ3) ngày 08/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Bộ Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Số khung, số máy của các xe ô tô gắn biển số giả 51A-480.01, 51A-688.65 không phát hiện thay đổi số khung, số máy.

Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 02/4/2018 của Đội đăng ký xe Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sông Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm xe ô tô có số máy 1AR0249491, số khung 4T3ZA3BB4AU025758 và xe ô tô có số máy 2GR7661289, số khung 5TDKK3DC8FS609660.

Công văn số 5864/STC-HĐĐGTSTTHS ngày 08/10/2018 của Sở Tài chính tỉnh Đồng Nai kết luận: Xe ô tô hiệu Toyota Sienna màu đỏ, số máy 2GR7661289, số khung 5TDKK3DC8FS609660 và xe ô tô hiệu Toyota Venza màu đen, số máy 1AR0249491, số khung 4T3ZA3BB4AU025758 không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, là tài sản không được lưu hành, trao đổi, thế chấp nên không có cơ sở để định giá.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 21/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Bùi Đình V 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả” và còn xử phạt Lê Minh C.

Tại Quyết định số 09/QĐ/VC3-V1 ngày 20/5/2020 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị phúc thẩm theo hướng hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 21/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để điều tra xét xử lại.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 623/2020/HS-PT ngày 21/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 21/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai điều tra lại vụ án, vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với Hồng Bích P và Lý Hòa T.

Ngày 23/9/2021 Lê Minh C chết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 08/QĐ-CSHS-Đ4 ngày 12/11/2021 đình chỉ điều tra đối với Lê Minh C.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS-P2 ngày 10/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Đình V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 và còn truy tố Hồng Bích P.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với Lý Hòa T, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Bị cáo Bùi Đình V đã nộp 15.000.000 đồng; Hồng Bích P đã nộp 600.000.000 đồng và Cơ quan điều tra đã giao trả cho ông Đỗ Hoàng A.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Bùi Đình V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình V 08 (Tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành là 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 10/02/2018 đến ngày 05/10/2018.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Hồng Bích P; về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp; về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/5/2024, bị cáo Bùi Đình V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét bị cáo Bùi Đình V có nhiều tình tiết giảm nhẹ như Bản án sơ thẩm đã xem xét. Ngoài ra, sau khi bản án sơ thẩm lần đầu bị hủy thì bị cáo V đã khai ra bị cáo Hồng Bích P và Lý Hòa T, nên đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 hoặc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đồng thời, thiệt hại trong vụ án đã được khắc phục triệt để, bị cáo là người làm công, phải nghe lời của chủ, đã hơn 68 tuổi, mắc nhiều bệnh, hoàn cảnh khó khăn, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của cả hai tội để thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Đơn kháng cáo hợp lệ, đủ điều kiện giải quyết phúc thẩm; Về nội dung Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Đình V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 và phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và quyết định hình phạt đối với bị cáo là tương xứng. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên đề nghị bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Đình V đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Phiên tòa được triệu tập hợp lệ, bị cáo Bùi Đình V có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị gãy cung xương sườn V, VI phía trước bên phải. Xét thấy việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, việc xét xử phúc thẩm vẫn được tiến hành.

[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các Kết luận giám định, Biên bản thu giữ vật chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2018, bị cáo Bùi Đình V đưa hình của V cho Lê Minh C làm giả chứng minh nhân dân và làm giả các giấy tờ xe ô tô không rõ nguồn gốc rồi bị cáo V trực tiếp mang xe ô tô và giấy tờ giả đến cầm xe cho ông Đỗ Hoàng A để lấy 600.000.000 đồng, V được chia 15.000.000 đồng; lần thứ hai đem cầm xe ô tô với giá 2.200.000.000 đồng thì bị ông Đỗ Hoàng A phát hiện. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Đình V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 và phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, vừa xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, vừa xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội.

Bị cáo Bùi Đình V biết rõ các giấy tờ là giả, các xe ô tô không rõ nguồn gốc, không được phép lưu hành nhưng được gắn biển số giả, có giấy chứng nhận đăng ký xe giả, giấy chứng nhận kiểm định xe giả nhưng bị cáo vẫn mang xe ô tô và các giấy tờ giả đến cầm cố để chiếm đoạt của bị hại 600.000.000 đồng, bị cáo được hưởng 15.000.000 đồng; cũng thủ đoạn trên, bị cáo lại tiếp tục cầm xe lần thứ hai thì bị phát hiện. Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội chưa đạt và đã xử phạt bị cáo 08 năm tù đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” dưới xa mức thấp của khung hình phạt quy định phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân và đã xử phạt bị cáo 03 năm tù đối với tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là mức thấp nhất của khung hình phạt quy định phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, đã là tương xứng. Về tình tiết luật sư đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay là bị cáo đã khai ra Hồng Bích P và Lý Hòa T đã được xem xét thật thà khai báo, nên không có căn cứ để áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 hoặc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[4] Từ các phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình V và lời bào chữa của luật sư, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

[5] Bị cáo Bùi Đình V không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, nhưng do bị cáo là người cao tuổi nên được miễn;

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Hồng Bích P; về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp; về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình V; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Bùi Đình V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình V 08 (Tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Bùi Đình V phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án và được khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 10/02/2018 đến ngày 05/10/2018.

  1. Bị cáo Bùi Đình V được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Hồng Bích P; về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp; về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: HS, VP, NTHN (18b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 786/2024/HS-PT ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 786/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger