|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 785/2024/DS-ST Ngày: 19/9/2024 V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Ông Lê Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Cúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số 369/2024/DSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 967/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1300/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)
Trụ sở: 29 L, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: P, lầu C, số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Trần Hoàng V – sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: A Chung cư T, số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 9 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ngân hàng TNHH một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) có ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Căn cứ theo đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ký ngày 30/5/2012, Bản các điều khoản Vay tiêu dùng cá nhân, ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered Việt Nam (sau đây gọi tắt là ngân hàng S) đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Trần Hoàng V như sau: khoản vay số 103942; số tiền giải ngân: 230.000.000 đồng, ngày giải ngân: 07/6/2012; đồng tiền vay: Việt Nam đồng; thời hạn vay: 48 tháng (đến ngày 05/6/2016); mục đích vay: vay tiêu dùng; Lãi suất vay quy định: lãi trong hạn 25.75%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình cấp tín dụng, bà V đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó ngân hàng S đã tiến hành chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay này kể từ ngày 05/6/2014 và yêu cầu bà V thanh toán toàn bộ dư nợ còn thiếu của khoản vay nêu trên. Tuy nhiên đến nay V vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với số nợ còn lại.
Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà V thanh toán một lần số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là 97.840.518 đồng (bao gồm nợ gốc:74.243.479 đồng, lãi: 20.411.422 đồng, phí/lãi quá hạn: 3.185.617 đồng). (Số tiền này là tổng tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/6/2014)
Ngân hàng không yêu cầu bà V thanh toán tiền lãi kể từ ngày 06/6/2014 cho đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án.
Từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà V phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn theo mức suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Trần Hoàng V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng bà V đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa:
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
- - Bị đơn bà Nguyễn Trần Hoàng V vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 25 tháng 9 năm 2023 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ kết quả xác minh của công an phường T, quận T thể hiện bà Nguyễn Trần Hoàng V có đăng ký tạm trú và đang thực tế cư trú tại A chung cư T, A T, phường T, quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2].Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn do ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Trần Hoàng V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171; Điều 177, Điều 179; Điều 196, Điều 208, Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà V đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3]. Về yêu cầu của đương sự:
Bị đơn bà Nguyễn Trần Hoàng V không có mặt tại Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ cũng như vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu, chứng cứ, tài liệu của nguyên đơn nộp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, để xem xét giải quyết.
[3.1] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:
Xét, Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ngày 30/5/2012; Hợp đồng vay tiêu dùng cá nhân ngày 30/5/2012 ký giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Trần Hoàng V; lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: hai bên có xác lập hợp đồng theo mẫu chung do nguyên đơn dự thảo, theo quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015, việc hai bên ký hợp đồng theo đúng trình tự, thủ tục quy định, đồng thời bị đơn bà V đã thực hiện thanh toán một số kỳ của hợp đồng (theo bảng lịch sử thanh toán ngày 30/7/2024 ; bảng tính lãi chi tiết do nguyên đơn cung cấp) nên Hội đồng xét xử xét, hình thức và nội dung bản hợp đồng này được giao kết và thực hiện là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385, Điều 398, Điều 405, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Trong vụ án này, bị đơn bà Nguyễn Trần Hoàng V không có yêu cầu phản tố.
[3.2] Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo đơn khởi kiện; Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ngày 30/5/2012; Hợp đồng vay tiêu dùng cá nhân ngày 30/5/2012 ký giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Trần Hoàng V; bảng lịch sử thanh toán ngày 30/7/2024 ; bảng tính lãi chi tiết do nguyên đơn lập, xác định sau khi ký hợp đồng tín dụng nguyên đơn đã giải ngân số tiền 230.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của bà V (theo sao kê tài khoản từ ngày 07/6/2012 đến 29/6/2012 do phía nguyên đơn cung cấp). Nội dung thỏa thuận trong hợp đồng: số tiền giải ngân: 230.000.000 đồng, ngày giải ngân: 07/6/2012; đồng tiền vay: Việt Nam đồng; thời hạn vay: 48 tháng (đến ngày 05/6/2016); mục đích vay: vay tiêu dùng; Lãi suất vay quy định: lãi trong hạn 25.75%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên nay nguyên đơn yêu cầu bà V thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 19/9/2024 số tiền 97.840.518 đồng (trong đó nợ gốc là 74.243.479 đồng, lãi: 20.411.422 đồng, phí/lãi quá hạn: 3.185.617 đồng) (đây là số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/6/2014) là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà V mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thanh toán nợ cho nguyên đơn. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà V thanh toán số nợ trên là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu tính lãi quá hạn từ ngày 06/6/2014 cho đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án.
[3.3]. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 20/9/2024 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp nên chấp nhận.
[3.4]. Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Trần Hoàng V có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered (Việt Nam) số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là 97.840.518 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ 20/9/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Trần Hoàng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.892.026 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 2.446.013 đồng cho ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered (Việt Nam).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179; Điều 227; Điều 228; các Điều 264, 266, 267, 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
- - Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của nguyên đơn ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered (Việt Nam).
- Bà Nguyễn Trần Hoàng V có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered (Việt Nam) số tiền là: 97.840.518 đồng (trong đó nợ gốc là 74.243.479 đồng, lãi: 20.411.422 đồng, phí/lãi quá hạn: 3.185.617 đồng) theo Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ngày 30/5/2012; Hợp đồng vay tiêu dùng cá nhân ngày 30/5/2012 ký giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Trần Hoàng V.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Trần Hoàng V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng kể từ 20/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Thời hạn và phương thức thanh toán: Một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Trần Hoàng V phải nộp số tiền án phí là 4.892.026 đồng
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 2.446.013 đồng cho ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered (Việt Nam) theo biên lai thu số 0024159 ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |
Bản án số 785/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 785/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
