trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 785/2025/DS-ST

Ngày: 28-5-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái
  2. Ông Phạm Thế Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2559/2024/TLST - DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3216/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4017/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H; Địa chỉ: 5 B, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Quốc D; Địa chỉ liên hệ: H P, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết G, sinh năm 1990; Địa chỉ: 7 Đường B, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Phước H, sinh năm 1963; Địa chỉ: 7 Đường B, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
    2. Bà Nguyễn Thị Giao C, sinh năm 1986; Địa chỉ: I Đường số A, Khu phố A, phường C, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
    3. Ông Vũ Hoàng H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: H Đ, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn Quỹ hỗ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H (gọi tắt Quỹ CCM), bản tự khai và trong quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Thái Quốc D trình bày:

Ngày 15/5/2023, Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H (Quỹ CCM) đã trợ vốn cho bà Nguyễn Thị Tuyết G số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Loại hình góp vốn tháng; Thời hạn 12 tháng; phí trợ vốn là 0,7%/tháng, phí quản lý của cấp liên nhiệm là 0,15%/tháng cộng với số tiền tiết kiệm là 1%/tháng; Phương thức hoàn trả mỗi tháng một lần bao gồm vốn, phí và tiết kiệm là 2.040.000 đồng; Ngày tất toán nợ là 17/5/2024.

Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp vốn và phí, bà Nguyễn Thị Tuyết G trả được tổng cộng 8.960.000 đồng trong đó vốn 7.432.000 đồng, phí trợ vốn 728.000 đồng và tiết kiệm 800.000 đồng cho quỹ CCM. Tính đến ngày 28/5/2025 tổng số tiền bà G còn nợ là 15.534.000, trong đó nợ vốn là 12.568.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.312.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.654.000 đồng.

Vì vậy, Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã Thành phố H làm Đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xem xét giải quyết:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết G có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền nợ cho Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã, tổng cộng số tiền là 15.534.000, trong đó nợ vốn là 12.568.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.312.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.654.000 đồng. Tiền lãi được tính tiếp tục kể từ ngày 29/5/2025 cho đến khi bà G trả hết nợ.
  2. Trường hợp bà Nguyễn Thị Tuyết G không trả nợ, Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã đề nghị Tòa án buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Phước H phải trả nợ cho bà G.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết G; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước H mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt từ lúc thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay và cũng không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Giao C trình bày: Quỹ CCM đã tiến hành trợ vốn cho bà Nguyễn Thị Tuyết G số tiền 20.000.000 đồng đã ký nhận ngày 17/5/2023; Người có nghĩa vụ trả nợ thay là ông Nguyễn Phước H. Phương thức hoàn trả mỗi tháng một lần bao gồm vốn, phí và tiết kiệm là 2.040.000 đồng và Tổ hợp tác số 03 phường C có nghĩa vụ thu tiền trực tiếp từ người vay sau đó nộp về cho Quỹ CCM. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp vốn và phí, Tổ hợp tác số 03 phường C do bà là đại diện đã thu tiền từ bà Nguyễn Thị Tuyết G và nộp hết cho Quỹ CCM là 8.960.000 đồng. Số tiền còn lại bà G còn nợ Quỹ CCM tính đến ngày 15/10/2024 là 14.544.000 đồng. Bà đã thực hiện đúng trách nhiệm như đã thỏa thuận trong Hợp đồng liên kết với Quỹ CCM, tiền thu nợ từ bà G đã nộp về hết cho Quỹ CCM đã nêu trên và bà không khiếu nại bất kỳ vấn đề gì liên quan đến vụ kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Hoàng H1 trình bày: Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp vốn và phí, bà Nguyễn Thị Giao C đại diện Tổ hợp tác số 03 phường C đã thu tiền từ bà Nguyễn Thị Tuyết G và nộp về hết cho Q trợ vốn xã viên hợp tác xã T là 8.960.000 đồng. Số tiền còn lại tính đến ngày 15/10/2024 bà Nguyễn Thị Tuyết G còn nợ của Quỹ CCM là 14.544.000 đồng. Ông có trách nhiệm thực hiện hợp đồng này khi bà Nguyễn Thị Giao C không thể thực hiện hoặc vi phạm các điều khoản trong Hợp đồng liên kết với Quỹ CCM. Ông không có khiếu nại bất cứ vấn đề gì liên quan đến vụ kiện.

Tại phiên tòa:

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết G, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước H mặc dù đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Giao C và ông Vũ Hoàng H1 có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý đơn khởi kiện đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền. Việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, xét xử đúng thời gian, địa điểm, đúng thành phần, thủ tục khai mạc phiên tòa đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã Thành phố H yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết G phải trả cho Quỹ CCM số tiền đã vay vốn theo Đơn đề nghị hỗ trợ vốn của bà Nguyễn Thị Tuyết G nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Thái Quốc D; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Giao C và ông Vũ Hoàng H1 có đơn xin vắng mặt; Bị đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị Tuyết G phải thanh toán tổng cộng 15.534.000 đồng, trong đó nợ vốn là 12.568.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 1.312.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.654.000 đồng:

[3.1] Về yêu cầu của trả tiền vốn gốc:

Xét mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa bà G đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án, coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ trên các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét và đánh giá.

Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp và xác nhận của các bên đương sự có cơ sở xác định: Ngày 15/5/2023, Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H đã trợ vốn cho bà Nguyễn Thị Tuyết G số tiền là 20.000.000 đồng theo Đơn đề nghị trợ vốn của bà G. Đây là loại hình trợ vốn góp tháng; Thời hạn 12 tháng; phí trợ vốn là: 0,70%/tháng, phí quản lý của Cấp liên nhiệm là: 0,15%/tháng, cộng với tiền tiết kiệm là 1%/ tháng; Phương thức hoàn trả mỗi tháng một lần bao gồm vốn, phí và tiết kiệm là 2.040.000 đồng; Ngày tất toán nợ là 17/5/2024.

Xét thấy, Q trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H được thành lập nhằm mục đích giúp xã viên, người lao động trong Tổ hợp tác, Hợp tác xã có điều kiện tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho gia đình và bản thân trên tinh thần hợp tác, tương trợ, tự nguyện và không nhằm mục đích lợi nhuận. Đơn đề nghị trợ vốn của bà G là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của đơn phù hợp với quy định của pháp luật, được cấp có thẩm quyền xác nhận cấp tín dụng nên có giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với người được hỗ trợ vốn. Sau đó ngày 17/5/2023, phía Quỹ CCM đã trợ vốn cho bà G tuy nhiên bà G không thanh toán đúng tiến độ theo như trong đơn đề nghị trợ vốn là vi phạm thỏa thuận đã ký kết. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp vốn và phí, bà G trả được tổng cộng là 8.960.000 đồng trong đó vốn 7.432.000 đồng, phí trợ vốn 728.000 đồng và tiết kiệm 800.000 đồng cho quỹ CCM, số tiền gốc còn nợ là 12.568.000 đồng. Do vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà G phải trả số tiền vốn gốc chưa thanh toán 12.568.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ lãi trong hạn là 1.312.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.654.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Điều 22 của Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H quy định: “Để bù đắp một phần chi phí điều hành và bảo toàn vốn, Quỹ tính phí trên số vốn cho vay theo từng đối tượng. Mức phí cụ thể từng đối tượng từ 95% đến 97% so với lãi suất cho vay cùng loại hình của các ngân hàng trên cùng địa bàn”. Theo Quyết định số 2539/QĐ-UB của Chủ tịch UBND Thành phố H ngày 13/6/2002 quy định: “Quỹ được thu phí đối với số vốn hỗ trợ cho xã viên với mức phí thấp hơn từ 3% đến 5% lãi suất cho vay theo tháng, quý, năm của Ngân hàng N tại cùng thời điểm”. Do đó tại Đơn đề nghị trợ vốn thì lãi suất cho vay trong trường hợp của bà G là 0,7%/tháng.

Về phí quản lý của cấp liên nhiệm: Mức phí này được thỏa thuận giữa thành viên vay vốn với Cấp liên nhiệm và được Q đồng ý. Được thể hiện trên Đơn đề nghị trợ vốn của bà G.

Xét thấy, mức lãi suất do hai bên tự nguyện thỏa thuận và phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N nên có cơ sở để hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà G phải trả cho Quỹ CCM số nợ lãi trong hạn 1.312.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.654.000 đồng.

Tổng số tiền bà G phải trả cho Quỹ CCM là 12.568.000 đồng + 1.312.000 đồng + 1.654.000 đồng = 15.534.000 đồng.

[3.3] Về yêu cầu của nguyên đơn trong trường hợp bà Nguyễn Thị Tuyết G không trả nợ, Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã đề nghị buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Phước H phải trả nợ cho bà G, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong Đơn đề nghị trợ vốn ngày 15/5/2023 của bà G thể hiện: “Người có nghĩa vụ trả thay (nếu tôi không trả được) là ông (bà) Nguyễn Phước H, quan hệ với người xin trợ vốn: Ba...”, có chữ ký xác nhận của ông H. Việc ông H tự nguyện đứng ra bảo lãnh cho bà G về việc nhận nợ nói trên trong trường hợp đến hạn mà bà G không trả được nợ là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy yêu cầu của Q trợ vốn buộc ông H phải trả nợ thay cho bà G (trong trường hợp bà G không thực hiện việc trả nợ hoặc trả không đủ khoản nợ trên) là có cơ sở phù hợp theo quy định tại Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Quỹ CCM là 15.534.000 đồng, án phí phải chịu là 776.700 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 189, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng khoản 2 Điều 155; Điều 429; Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H (Việt Nam).

    Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết G có nghĩa vụ thanh toán cho Quỹ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H (Việt Nam) tổng số tiền là 15.534.000 đồng đồng (Mười lăm triệu năm trăm ba mươi bốn ngàn đồng) tính đến ngày 28/5/2025, trong đó:

    • Nợ vốn gốc: 12.568.000 đồng;
    • Nợ lãi trong hạn: 1.312.000 đồng;
    • Nợ lãi quá hạn phải trả: 1.654.000 đồng.

    Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Tuyết G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền vốn gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đơn đề nghị trợ vốn cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 776.700 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm đồng).

    Quỹ hỗ trợ vốn xã viên Hợp tác xã Thành phố H (Việt Nam) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 363.600 đồng (Ba trăm sáu mươi ba ngàn sáu trăm đồng) theo Biên lai thu số 0067363 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. HCM;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 785/2025/DS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 785/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger