|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 784/2024/DS-ST Ngày 24-09-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Ông Võ Văn Dương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 329/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 04 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 550/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B; địa chỉ: số A đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Lương Hữu H; địa chỉ: Tầng D, số B đường Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền số 79/2024/UQ-BVB ngày 12 tháng 08 năm 2024 (có mặt).
2. Bị đơn: bà Đỗ Vân Thanh N, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ C, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: số 6 Đường E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Dương Bảo H1, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ C, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền Giấy ủy quyền ngày 26 tháng 08 năm 2024 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20 tháng 04 năm 2018 nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng tín dụng số 0219/2018/HĐTD2/BVB16, theo đó nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 740.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng, mục đích vay mua xe ô tô, lãi suất 8,11%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu tiên, lãi suất được thay đổi theo quy định tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi là 10%/năm.
Tài sản bảo đảm cho khoản nợ trên là 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, màu đen, số loại Camry, số máy 6ARP407705, số khung RL4BN3FKXJ1006728, biển kiểm soát 51G-169.43, sản xuất năm 2018, chủ sở hữu là bị đơn Đỗ Vân Thanh N, theo Hợp đồng thế chấp số 1266367.A.18.HĐTC.SG ngày 20 tháng 04 năm 2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01 ngày 18 tháng 05 năm 2018.
Thực hiện hợp đồng tín dụng ngày 20 tháng 04 năm 2018 nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn vay số tiền 740.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 0219.01/2018/KUNN2/BVB16 ngày 20 tháng 04 năm 2018, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc mỗi tháng là 8.810.000 đồng, tháng cuối cùng trả 8.770.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng theo số dư nợ gốc thực tế, việc thanh toán nợ bắt đầu thực hiện từ tháng 05 năm 2018.
Sau khi được giải ngân, bị đơn mới thanh toán được số tiền là 528.987.452 đồng, trong đó nợ gốc là 325.970.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 178.501.636 đồng, tiền lãi quá hạn là 19.214.888 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 5.300.928 đồng. Đến ngày 14 tháng 07 năm 2022 thì bị đơn ngưng thanh toán nợ cho nguyên đơn nên ngày 22 tháng 02 năm 2024 nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản vay trên sang nợ quá hạn.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 12 tháng 03 năm 2024 là 563.064.165 đồng, trong đó nợ gốc là 414.030.000 đồng, nợ lãi là 149.034.165 đồng, và tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ kể từ ngày 13 tháng 03 năm 2024 cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ.
Ngay khi bị đơn thanh toán hết khoản nợ trên nguyên đơn sẽ trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 362153 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 20 tháng 04 năm 2018 cho bị đơn.
Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên cho nguyên đơn thì đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
Ý kiến của bị đơn: Tại bản tự khai ngày 26 tháng 08 năm 2024, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: ngày 20 tháng 04 năm 2018 bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 740.000.000 đồng, tiền lãi và các khoản phí, lệ phí như nguyên đơn trình bày. Tài khoản bảo đảm cho khoản vay trên là xe ô tô biển số 51G-169.43 theo Hợp đồng thế chấp số 1266367.A.18.HĐTC.SG ngày 20 tháng 04 năm 2018. Xe ô tô này hiện nay bị đơn đang quản lý, sử dụng.
Tính đến 26 tháng 08 năm 2024, bị đơn mới thanh toán được 325.970.000 đồng tiền nợ gốc và 178.501.636 đồng tiền lãi. Do dịch bệnh Covid nên làm ăn khó khăn, bị đơn đề nghị nguyên đơn giảm lãi và cho bị đơn thêm thời gian đến ngày 26 tháng 12 năm 2024 sẽ thu xếp trả hết nợ cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả toàn bộ nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 24 tháng 09 năm 2024 là 601.580.290 đồng, trong đó: nợ gốc là 414.030.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 79.301.073 đồng, tiền lãi quá hạn và lãi phạt là 108.249.217 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25 tháng 09 năm 2024 đến khi bị đơn trả hết toàn bộ khoản nợ trên theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nếu bị đơn không thanh toán được nợ thì yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn. Chi phí tố tụng khác là 6.000.000 đồng do bị đơn chịu.
Bị đơn và người người đại diện hợp của bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định; tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 24 tháng 09 năm 2024 là 601.580.290 đồng, trong đó: nợ gốc là 414.030.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 79.301.073 đồng, tiền lãi quá hạn và lãi phạt là 108.249.217 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật:
Căn cứ hợp đồng tín dụng số 0219/2018/HĐTD2/BVB16 và Khế ước nhận nợ số 0219.01/2018/KUNN2/BVB16 cùng ngày 20 tháng 04 năm 2018, bản tự khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 740.000.000 đồng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc mỗi tháng là 8.810.000 đồng, tháng cuối cùng thanh toán 8.770.000 đồng, tiền lãi thanh toán hàng tháng theo số dư nợ gốc thực tế, việc thanh toán nợ bắt đầu thực hiện từ tháng 05 năm 2018. Tính đến ngày 24 tháng 09 năm 2024, bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn được số tiền là 528.987.452 đồng, trong đó nợ gốc là 325.970.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 178.501.636 đồng, tiền lãi quá hạn là 19.214.888 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 5.300.928 đồng; bị đơn còn nợ lại nguyên đơn số tiền là 601.580.290 đồng, trong đó: nợ gốc là 414.030.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 79.301.073 đồng, tiền lãi quá hạn và lãi phạt là 108.249.217 đồng, bị đơn thanh toán nợ lần cuối cùng là ngày 14 tháng 07 năm 2022. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 24 tháng 09 năm 2024 là 601.580.290 đồng, trong đó: nợ gốc là 414.030.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 79.301.073 đồng, tiền lãi quá hạn và lãi phạt là 108.249.217 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 25 tháng 09 năm 2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ trên:
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và sự thỏa thuận của các đương sự tại hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán lãi quá hạn đối với khoản nợ gốc kể từ sau khi tuyên án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Căn cứ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật dân sự năm 2015, ngay khi bị đơn trả hết toàn bộ khoản nợ, thì nguyên đơn phải trả lại bản chính giấy tờ theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1266367.A.18.HĐTC.SG ngày 20 tháng 04 năm 2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01 ngày 18 tháng 05 năm 2018 cho bị đơn.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn:
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 362153 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 20 tháng 04 năm 2018 cho bà Đỗ Vân Thanh N; Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1266367.A.18.HĐTC.SG ngày 20 tháng 04 năm 2018, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01 ngày 18 tháng 05 năm 2018 được các bên tự nguyện ký kết, tài sản thế chấp đã được nguyên đơn xem xét, thẩm định và các bên đã đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên có hiệu lực pháp luật.
Xét thấy, hợp đồng thế chấp số HĐTC5802020105 ngày 26 tháng 11 năm 2020 là hợp pháp, căn cứ các Điều 317, 319, 320, 323 và 325 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
[2.4] Xét yêu cầu của bị đơn:
Quá trình gải quyết vụ án, bị đơn yêu cầu nguyên đơn cho thêm thời gian 05 tháng kể từ ngày 26 tháng 08 năm 2024 đến hết ngày 26 tháng 12 năm 2024 để thu xếp trả nợ cho nguyên đơn nhưng nguyên đơn không đồng ý; bị đơn yêu cầu nguyên đơn giảm lãi nhưng phía nguyên đơn chỉ đồng ý giảm lãi khi bị đơn thanh toán hết khoản nợ gốc cho nguyên đơn, do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
[3] Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.063.212 đồng.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là 6.000.000 đồng do bị đơn chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 317, 319, 320, 321, 322, 323, 325, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Đỗ Vân Thanh N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 24 tháng 09 năm 2024 là 601.580.290 đồng (Sáu trăm lẻ một triệu năm trăm tám mươi nghìn hai trăm chín mươi đồng), trong đó: nợ gốc là 414.030.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 79.301.073 đồng, tiền lãi quá hạn và lãi phạt là 108.249.217 đồng, phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 0219/2018/HĐTD2/BVB16 ngày 20 tháng 04 năm 2018, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Vân Thanh N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP B, thì lãi suất bà Đỗ Vân Thanh N phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP B theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP B.
Ngay khi bà Đỗ Vân Thanh N trả hết toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP B phải trả bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 362153 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 20 tháng 04 năm 2018 cho bà Đỗ Vân Thanh N.
Trường hợp bà Đỗ Vân Thanh N không thanh toán được nợ hoặc thanh toán không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, màu đen, số máy 6ARP407705, số khung RL4BN3FKXJ1006728, biển kiểm soát 51G-169.43, số loại Camry, sản xuất năm 2018, chủ sở hữu là bà Đỗ Vân Thanh N để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP B.
Sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, bà Đỗ Vân Thanh N có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP B đến khi hết nợ. Số tiền phát mãi tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP B, nếu còn dư được trả cho bà Đỗ Vân Thanh N.
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
Bà Đỗ Vân Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.063.212 đồng (Hai mươi tám triệu không trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm mười hai đồng).
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP B là 13.261.284 đồng (Mười ba triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn hai trăm tám mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0015125 ngày 24 tháng 04 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Đỗ Vân Thanh N có nghĩa vụ thanh toán chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho Ngân hàng TMCP B.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 784/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 784/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
