|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 784/2024/DS-PT Ngày: 09/9/2024 V/v Tranh chấp đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đức
Các Thẩm phán: Ông Uông Văn Tuấn
Bà Huỳnh Thị Như Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Lê Quỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu, Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 618/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4607/2024/QĐ-PT ngày 14/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai P, sinh năm 1984. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1978. (có mặt)
- Người kháng cáo: nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P.
Địa chỉ thường trú: số A C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ liên hệ: số H đường N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: số A Đường số I, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2012, bà P quen biết với ông Trần Quốc K qua bạn bè và mối quan hệ làm ăn. Đến tháng 5/2012, ông K có hỏi vay tiền từ bà để đầu tư kinh doanh, vì tin tưởng ông K, bà đã cho ông K vay tiền và vàng nhiều lần trong khoảng thời gian từ tháng 5/2012 đến tháng 8/2014.
Đến cuối năm 2014, số tiền và vàng ông K đã vay gồm: 238.124.000 đồng, số tiền này bà P giao cho ông K qua chuyển khoản tại tài khoản ngân hàng và nộp tiền mặt vào tài khoản của ông K, phần còn lại giao trực tiếp cho ông K, không lập giấy vay mượn nào, tùy vào khả năng tài chính của bà P số tiền cho vay mỗi lần khác nhau, cụ thể:
Từ ngày 10/5/2012 đến ngày 04/12/2012: 120.200.000 đồng.
Từ ngày 04/01/2013 đến tháng 12/2013: 119.380.000 đồng.
Từ ngày 14/01/2014 đến ngày 09/8/2014: 30.224.000 đồng.
Và bà P giao trực tiếp cho ông K 06 chỉ vàng 9999, không lập giấy vay mượn nào, (bà P tạm tính tại thời điểm ngày 20/12/2021 theo bảng giá vàng bán ra của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC là: 5.280.000 đồng/chỉ x 6 chỉ = 31.680.000 đồng.
Như vậy, số tiền ông K nợ bà P tạm tính tổng cộng là 269.804.000 đồng. Ông K hứa sẽ trả tiền vay vào đầu năm 2016, nhưng từ đó đến nay ông K không trả. Bà P khởi kiện yêu cầu ông K trả số tiền và vàng (quy đổi thành tiền) là 269.804.000 đồng.
Ngày 13/3/2024 bà Nguyễn Thị Mai P có Đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông Trần Quốc K phải trả số tiền lãi nợ quá hạn kể từ khi phát sinh nợ quá hạn tạm tính đến ngày 31/12/2023 là 250.921.440 đồng. Nợ quá hạn tính từ ngày 10/5/2012 tạm tính đến ngày 31/12/2023 là 250.921.440 đồng, lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước là 9%/năm. Tổng số tiền bà P yêu cầu ông K trả gồm tiền gốc, lãi và 06 chỉ vàng (quy đổi thành tiền) là 520.725.440 đồng.
Việc ông K nói bà P làm quản lý quán S, bà P không thừa nhận vì bà có biết ông K mở quán nhưng bà không phải là nhân viên của quán.
Tại phiên toà sơ thẩm, bà P yêu cầu ông K trả số tiền, vàng và tiền lãi tạm tính đến ngày 07/6/2024 là 542.991.273 đồng.
Phía bị đơn trình bày:
Ông K không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông K cho rằng đây là tiền hùn hạp làm ăn và xuất phát từ tình cảm yêu thương, để cùng mở quán cà phê, quán cơm. Quán ăn có tên S tại địa chỉ số G, lô C, phường A, Quận B (cũ) tồn tại từ năm 2007 đến khoảng năm 2012 do thua lỗ nên đóng cửa. Trong quá trình đó bà P không đòi vì có tình cảm yêu thương, đến 10 năm sau mới đòi là không đúng sự thật. Những hợp đồng ông đứng tên vay như bà P cung cấp cho Tòa án gồm phiếu thu là do ông vay để bổ sung vốn cho quán ăn. Việc bà P trả dùm tiền hợp đồng vay cho ông là do bà P làm quản lý quán ăn nên lấy doanh thu, tiền lời hàng tháng của quán trả cho hợp đồng vay này.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông K đồng ý trả lại cho bà P số tiền 7.124.000 đồng mà ông nhờ bà P đóng dùm trong hai hợp đồng vay tại Công ty T và Công ty TNHH MTV T1. Ngoài ra ông không đồng ý các khoản tiền còn lại mà bà P cho rằng cho ông vay.
Tại Bản án sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai P, buộc bị đơn ông Trần Quốc K có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 32.766.147 đồng (Ba mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng), (trong đó tiền gốc là 27.124.000 đồng và tiền lãi là 5.642.147 đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai P về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Quốc K trả số tiền 510.225.126 đồng (Năm trăm mười triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn một trăm hai mươi sáu đồng). Hai bên đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 04/7/2024 và 12/7/2024, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P giữ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa án sơ thẩm, xem xét lại đối với các khoản tiền sau: 69.700.000 đồng mà nguyên đơn đã chuyển khoản cho bị đơn, đây không phải tự nguyện chuyển như án sơ thẩm nhận định; 70.800.000 đồng là tổng cộng các lần chuyển khoản, vì có những lần số tiền giống nhau nên cấp sơ thẩm cho rằng đây là lợi nhuận, hoa hồng từ việc kinh doanh chung là không có cơ sở; 06 chỉ vàng 9999 và 70.500.000 đồng tiền mặt nguyên đơn xác nhận đã đưa trực tiếp cho ông K; đồng thời đề nghị xem xét lại việc tính lãi quá hạn.
Bị đơn - ông Trần Quốc K không kháng cáo nhưng không đồng ý yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Các đương sự không hoà giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về số tiền 69.700.000 đồng và 70.800.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với 06 chỉ vàng 9999 và 70.500.000 đồng đưa tiền mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P nộp đơn kháng cáo và tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Đơn kháng cáo của bà P được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
+ Đối với số tiền 69.700.000 đồng:
Căn cứ Lệnh chuyển tiền của Ngân hàng TNHH một thành viên H1 ngày 14/5/2012, bà P có chuyển cho ông K, số tài khoản 0071003969454 của Ngân hàng TMCP N1 số tiền 69.700.000 đồng, không thể hiện nội dung thanh toán, như vậy có cơ sở xác định bà P có chuyển cho ông K 69.700.000 đồng.
+ Đối với số tiền 70.800.000 đồng:
Căn cứ vào các bản sao kê ngân hàng do nguyên đơn cung cấp thể hiện tài khoản của bà P chuyển tiền cho số tài khoản 0071003969454 của ông Trần Quốc K, lần lượt như sau:
- Ngày 02/5/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 06/6/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 13/6/2013 chuyển 15.003.300 đồng.
- Ngày 04/7/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 05/8/2013 chuyển 3.003.300 đồng.
- Ngày 14/8/2013 chuyển 703.300 đồng.
- Ngày 04/9/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 04/10/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 05/11/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 18/11/2013 chuyển 10.003.300 đồng.
- Ngày 04/12/2013 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 10/12/2013 chuyển 5.003.300 đồng.
- Ngày 14/01/2014 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 27/01/2014 chuyển 3.003.300 đồng.
- Ngày 04/02/2014 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 02/5/2014 chuyển 3.503.300 đồng.
- Ngày 12/5/2014 chuyển 1.003.300 đồng.
- Ngày 02/6/2014 chuyển 3.603.300 đồng.
- Ngày 13/6/2014 chuyển 1.003.300 đồng.
- Ngày 29/6/2014 chuyển 3.503.300 đồng.
- Ngày 05/8/2014 chuyển 2.003.300 đồng.
- Ngày 09/8/2014 chuyển 1.503.300 đồng.
- Tổng cộng: 70.872.600 đồng.
Như vậy có cơ sở xác định bà P đã chuyển cho ông K tổng số tiền là 70.872.600 đồng. Tại phiên toà bà P xác định chỉ yêu cầu tròn 70.800.000 đồng.
Xét thấy, phía bà P không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà chuyển hai khoản tiền trên cho ông K mục đích để cho vay hay vì mục đích gì, nên không thể xác định các giao dịch trên là giao dịch vay tiền giữa bà P và ông K, tuy nhiên do có việc chuyển số tiền 69.700.000 đồng và 70.872.600 đồng từ bà P sang cho ông K, nên thực tế ông K đã nhận được hai khoản tiền trên (căn cứ vào các lệnh chuyển tiền trên), ông K không thừa nhận đã nhận các khoản tiền này, nếu có chỉ là lợi nhuận từ việc kinh doanh nhưng lại không có chứng cứ gì chứng minh.
Cấp sơ thẩm nhận định do bà P không lý giải được vì sao có nhiều số tiền chuyển giống nhau và mục đích cho vay để làm gì, việc chuyển tiền không ghi nội dung nên đây là ý chí đơn phương tự nguyện chuyển tiền của bà P, đây là nhận định chủ quan và không có căn cứ của cấp sơ thẩm. Mặc dù các bên không chứng minh được việc vay tiền, nhưng thực tế có việc chuyển tiền, ông K có nhận tiền nhưng không chứng minh được số tiền trên đã nhận là để làm gì, tiền này được tặng cho, hay hùn hạp làm ăn..., do đó nguyên đơn yêu cầu đòi lại 69.700.000 đồng và 70.800.000 đồng (đây là tranh chấp đòi tài sản) là có cơ sở.
+ Đối với 06 chỉ vàng 9999 và 70.500.000 đồng tiền mặt nguyên đơn xác nhận đã đưa trực tiếp cho ông K:
Bà P trình bày bà có trực tiếp đưa cho ông K 06 chỉ vàng 9999 (quy đổi là 31.680.000 đồng) và 70.500.000 đồng tiền mặt, nhưng lại không có chứng cứ, giấy tờ ký nhận chứng minh việc ông K nhận tiền, ông K cũng không thừa nhận đối với các khoản trên, nên kháng cáo của bà P yêu cầu đòi lại 06 chỉ vàng 9999 và 70.500.000 đồng tiền mặt là không có cơ sở chấp nhận.
+ Đối với số tiền 20.000.000 đồng bà P chuyển khoản vào ngày 04/12/2012 cho ông K và số tiền 7.124.000 đồng bà P thanh toán các Hợp đồng tín dụng cho ông K, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi 02 khoản tiền trên của bà P, bà P không kháng cáo nên cần giữ y.
Như vậy, ông K phải trả lại cho bà P tổng cộng số tiền là: 69.700.000 đồng + 70.800.000 đồng + 20.000.000 đồng + 7.124.000 đồng = 167.624.000 đồng.
Về việc tính lãi chậm trả:
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định". Như đã phân tích trên, do nguyên đơn không chứng minh được việc chuyển tiền cho bị đơn là nhằm mục đích gì, nên không có cơ sở xem xét là giao dịch vay tài sản để tính lãi vay hay lãi quá hạn, mà chỉ xem xét lãi suất chậm trả khi đòi lại tiền.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."
Theo quy định tại khoản 2 Điều 347 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này."
Như vậy, giữa hai bộ luật có quy định khác nhau về cách xác định lãi chậm trả, do đó theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015, cần áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 để giải quyết.
Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì mức lãi suất cơ bản là 9%/năm.
Do nguyên đơn không chứng minh được thời điểm bị đơn phải thanh toán, nên cần xác định thời điểm thanh toán như sau:
Đối với các khoản tiền 20.000.000 đồng, 69.700.000 đồng và 70.800.000 đồng, cần xác định thời điểm bị đơn phải thanh toán là thời điểm nguyên đơn khởi kiện là ngày 23/12/2021, cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 19/6/2024 là 29 tháng 27 ngày (29,9 tháng), như vậy lãi chậm trả đối với 03 khoản tiền trên cụ thể như sau:
- + Lãi chậm trả trên số tiền 20.000.000 đồng: 20.000.000 đồng x 9%/năm x 29,9 tháng = 4.485.000 đồng.
- + Lãi chậm trả trên số tiền 69.700.000 đồng: 69.700.000 đồng x 9%/năm x 29,9 tháng = 15.630.225 đồng.
- + Lãi chậm trả trên số tiền 70.800.000 đồng: 70.800.000 đồng x 9%/năm x 29,9 tháng = 15.876.900 đồng.
Đối với số tiền 7.124.000 đồng, do ông Trần Quốc K có tin nhắn vào ngày 23/10/2020 thừa nhận số tiền trên và sẽ trả nợ cho bà P, nên xác định thời điểm thanh toán là ngày 23/10/2020, cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 19/6/2024 là 43 tháng 27 ngày (43,9 tháng), như vậy lãi chậm trả cụ thể như sau: 7.124.000 đồng x 9%/năm x 43,9 tháng = 2.345.577 đồng.
Tổng cộng số tiền lãi chậm trả là: 38.337.702 đồng.
Từ những nhận định trên, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại số tiền là 167.624.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 38.337.702 đồng, tổng cộng là 205.961.702 đồng. Số tiền, vàng và tiền lãi trên số tiền, vàng không được chấp nhận là 337.029.571 đồng (542.991.273 đồng - 205.961.702 đồng)
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 337.029.571 đồng không được chấp nhận là 16.851.479 đồng; được cấn trừ vào số tiền 6.745.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0029698 ngày 09/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận và 6.273.036 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0038153 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7. Bà P còn phải nộp 3.833.443 đồng tiền án phí.
Bị đơn - ông Trần Quốc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn (205.961.702 đồng) là 10.298.085 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa án sơ thẩm, nên án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị Mai P không phải chịu. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho bà P theo Biên lai thu số 0019664 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai P, buộc bị đơn ông Trần Quốc K có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 205.961.702 đồng (Hai trăm lẻ năm triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm lẻ hai đồng) (trong đó tiền gốc là 167.624.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 38.337.702 đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai P về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Quốc K trả 06 chỉ vàng 9999 (quy đổi là 31.680.000 đồng) và 70.500.000 đồng.
Hai bên đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Mai P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 337.029.571 đồng không được chấp nhận là 16.851.479 đồng (Mười sáu triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng); được cấn trừ vào số tiền 6.745.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0029698 ngày 09/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh và 6.273.036 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0038153 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P còn phải nộp 3.833.443 đồng (Ba triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi ba đồng) tiền án phí.
Bị đơn - ông Trần Quốc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn (205.961.702 đồng) là 10.298.085 đồng (Mười triệu hai trăm chín mươi tám nghìn không trăm tám mươi lăm đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa án sơ thẩm, nên án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị Mai P không phải chịu. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho bà P theo Biên lai thu số 0019664 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Đức |
Bản án số 784/2024/DS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 784/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
