Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 783/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2024
V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huyền Tôn Nữ Kiều Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Quản
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST–HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 579/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 761/2024/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nam Phương, sinh năm: 1976

    Hộ khẩu thường trú: 297, Khu phố 3, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi ở hiện tại: 84 đường TA10, Tổ 3, Khu phố 3, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có đơn xin vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Trương Văn Hài, sinh năm: 1972

    Hộ khẩu thường trú: 297, Khu phố 3, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nơi ở hiện tại: 84 đường TA10, Tổ 3, Khu phố 3, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 11 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Nam Phương trình bày:

Bà và ông Trương Văn Hài kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân (Sau đây gọi là UBND) Phường 5, thị xã Tân An, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 1 ngày 22/4/2002.

Năm 2010, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, ông Hài không chăm lo cho gia đình, cả hai thường xuyên cãi vả nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng khi thời gian gần đây, ông Hài đánh bạc thiếu nợ và bà chính là người phải trả các khoản nợ này. Bà đã cố gắng khuyên can chồng nhưng tình cản cả hai không thể hàn gắn nên bà đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông Hài.

Về con chung: Bà Phương xác định, bà và ông Hài có 02 (Hai) con chung tên Trương Nguyễn Hiền Trang, sinh ngày 08/8/2002 và Trương Nguyễn Hiền Linh, sinh ngày 29/11/2005. Cả hai con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân, không cần ai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Phương xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về ý kiến, đề nghị của bị đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Văn Hài không đến Tòa án, cũng không gửi văn bản trả lời về nội dung đơn kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 12 tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và triệu tập đến tòa để giải quyết vụ kiện.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa có ý kiến như sau :

Về thủ tục tố tụng: Thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền. Việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án khắc phục vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Ngoài ra còn nhận xét về việc tham gia tố tụng của các đương sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị Nam Phương nộp đơn xin ly hôn với ông Trương Văn Hài nên đây là “Tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do nên theo quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nam Phương và ông Trương Văn Hài tự nguyện tìm hiểu, kết hôn năm 2002, có đăng ký tại UBND Phường 5, thị xã Tân An, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 1 ngày 22/4/2002 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên bà Phương có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, qua lời khai của nguyên đơn thì giữa bà Phương và ông Hài thường xuyên cãi vả do mâu thuẫn về kinh tế, ông Hài không chăm lo, không có trách nhiệm với gia đình và đam mê đánh bạc. Bà Phương đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được.

Đồng thời, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Hài đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Hài không đến Tòa án theo triệu tập cũng không gởi văn bản phản đối các ý kiến của bà Phương mặc dù ông đã biết được nội dung đơn xin ly hôn của bà Phương. Điều này chứng tỏ ông Hài

không có thiện chí cũng như không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Từ những nhận định trên, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Nam Phương và ông Trương Văn Hài là gay gắt, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Phương về việc xin ly hôn với ông Hài cũng như ý kiến phát biểu của Viện Kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: Qua tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, có cơ sở xác định, ông Hài và bà Phương có 02 (Hai) con chung tên Trương Nguyễn Hiền Trang, sinh ngày 08/8/2002 và Trương Nguyễn Hiền Linh, sinh ngày 29/11/2005. Cả hai con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân, không cần ai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng như trình bày của bà Phương.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Phương xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[4] Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Nam Phương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ với tiền tạm ứng án phí bà Phương đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điểm a và b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nam Phương được ly hôn với ông Trương Văn Hài.

Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 1 do Ủy ban nhân dân Phường 5, thị xã Tân An, tỉnh Long An cấp ngày 22/4/2002 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Nam Phương và

ông Trương Văn Hài có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Nam Phương và ông Trương Văn Hài có 02 (Hai) con chung tên Trương Nguyễn Hiền Trang, sinh ngày 08/8/2002 và Trương Nguyễn Hiền Linh, sinh ngày 29/11/2005. Cả hai con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Nguyễn Thị Nam Phương xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Nam Phương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, khấu trừ với 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí bà Phương đã nộp theo biên lai thu số 0031560 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Phương đã nộp đủ án phí.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 12;
  • - UBND Phường 5, thị xã Tân An, tỉnh Long An, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huyền Tôn Nữ Kiều Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 783/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 783/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger