TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 783/2023/HC-PT Ngày 30 - 10 - 2023 V/v khởi kiện quyết định hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng;
Ông Phạm Đình Khánh.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hành chính thụ lý số 564/2023/TLPT-HC ngày 31 tháng 7 năm 2023 về “Khởi kiện quyết định hành chính".
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2023/HC-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11764/QĐ-PT ngày 13/14/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969, có mặt;
Địa chỉ: Đường Đ, Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Bạch Tuyết H, sinh năm 1965; địa chỉ: P K12 B, quận H, Thành phố Hà Nội và Ông Lê Giang N, sinh năm 1982; địa chỉ: P N02 K35 T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội, đều có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Bà Hoàng Thị N1 và bà Thái Thị Tố U, Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, bà N1 có mặt, bà U vắng mặt.
* Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) thành phố B;
Địa chỉ: Số B đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1, chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. UBND phường Đ, thành phố B;
Địa chỉ: Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ H2, chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường Đại Phúc, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bà Nông Thị H3, sinh năm 1976, có mặt;
3. Chị Nguyễn Thị Tú A, sinh năm 2000, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của chị Tú A: Bà Nông Thị H3;
Cùng địa chỉ: Đường Đ, Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Ngày 12/11/2021 Chủ tịch UBND thành phố B ban hành văn bản số 3137/UBND-TNMT (sau đây gọi tắt là văn bản 3137) về việc giải quyết đơn khiếu nại của 06 hộ gia đình tại xóm A, phường Đ, thành phố B (trong đó có gia đình ông Nguyễn Văn T); không đồng ý với nội dung giải quyết khiếu nại tại văn bản 3137, ông Nguyễn Văn T đã có đơn khởi kiện tại Tòa án tỉnh Bắc Ninh, yêu cầu Tòa án hủy văn bản 3137.
Quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Diện tích đất hiện gia đình ông Nguyễn Văn T đang sử dụng có nguồn gốc do gia đình khai hoang, xây dựng nhà ở, trồng cây cối và sử dụng ổn định, liên tục từ năm 1992 đến nay và không có tranh chấp, ngoài ra còn đổi đất 48m² (2 thước đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Q). Diện tích đất khai hoang và đất nông nghiệp được gia đình kê khai và nộp thuế đất. Năm 2000, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B thực hiện dự án mở rộng đường Đ đã lấy một phần đất của gia đình ông và chi trả bồi thường cho gia đình ông; diện tích còn lại là nhà ở và khu phụ, gia đình ông đã sửa sang, cải tạo thêm thành nhà ở kiên cố và tiếp tục sử dụng ổn định đến nay. Theo Trích đo bản đồ địa chính khu vực xin giao đất làm đất ở cho nhân dân thuộc xóm A xã Đ được phê duyệt ngày 26/04/2001; mặc dù vị trí mốc giới trên bản đồ không đúng với mốc giới sử dụng đất trên thực tế năm 2001 của gia đình ông (do ông T không được thông báo về việc thu hồi đất và thông báo kiểm kê đo đạc), nhưng cũng thể hiện một phần diện tích đất ở của gia đình ông nằm trong thửa đất ký hiệu loại đất thổ cư. Quá trình gia đình ông sử dụng đất không có bất kỳ tranh chấp với ai, cũng như không có bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào lập biên bản vi phạm hay được thông báo về việc vi phạm hay bị xử phạt gì.
Do đó, việc UBND kết luận gia đình ông xây dựng lấn chiếm trái phép trên đất người khác thuộc đất dự án B là không có căn cứ.
Về việc lập Biên bản kiểm tra xây dựng: Ngày 10/10/2001 UBND phường Đ đã lập biên bản kiểm tra xây dựng về việc xây lấn chiếm trái phép trong khu quy hoạch khu dân cư Bãi Ấn, việc lập biên bản này ông T không biết, không chứng kiến. Hơn nữa, nếu UBND thành phố đến kiểm tra, giám định thì sẽ rõ: Sau khi đường Đ hoàn thành, phần nhà đất của gia đình vẫn còn lại, gia đình ông chỉ chỉnh trang, cải tạo lại và vẫn giữ nền móng nhà cũ để có thể ở được, không có chuyện các gia đình lấn chiếm đất, nhưng UBND thành phố kết luận rằng: Toàn bộ công trình, nhà ở được xây dựng năm 2001 nằm trong quy hoạch Dự án dân cư dịch vụ Bãi Ân là công trình xây dựng trái phép đã lập biên bản; do vậy không được lập phương án bồi thường, hỗ trợ (theo điểm a, khoản 2, điều 18 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998 của Chính Phủ) là không đúng sự thật. Theo Trích đo bản đồ địa chính khu vực xin giao đất làm đất ở cho nhân dân thuộc xóm A xã Đ được phê duyệt ngày 26/04/2001 (kèm theo hồ sơ trình phê duyệt dự án, là căn cứ ban hành quyết định phê duyệt dự án) thì vị trí khu đất gia đình ông đang sử dụng được thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất thể hiện là đất thổ cư. Như vậy, khi lập bản đồ để xin phê duyệt dự án, gia đình ông đã và đang sinh sống ở đó và được thể hiện là đất thổ cư (ký hiệu T) trên bản đồ.
Do đó, nếu đất của các gia đình đang sử dụng thuộc dự án dân cư dịch vụ Bãi Á thì ông T phải được xác định là người sử dụng đất và phải được nhận chính sách về thu hồi, bồi thường, tái định cư theo quy định pháp luật, không thể buộc gia đình ông T phải tháo dỡ, di dời tài sản khi chưa nhận được bất cứ quyền lợi gì, như vậy là xâm phạm đến quyền về tài sản của gia đình ông.
Từ những lý do trên, ông T đề nghị Tòa án giải quyết, tuyên: Hủy Văn bản số 3137/UBND-TNMT ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc giải quyết đơn của công dân để gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất của gia đình.
* Người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố B trình bày:
Toàn bộ công trình, nhà ở được ông T xây dựng năm 2001 nằm trong quy hoạch dự án dân cư dịch vụ Bãi Ấn, Đại Phúc; cụ thể nằm trên thửa số 1, diện tích đo vẽ 128,2m² được ông Vũ Văn C khai hoang và trên một phần đất nông nghiệp của nhà ông L tại thửa số 9, diện tích đo vẽ 188,7m² trên Trích đo bản đồ địa chính khu vực xin giao làm đất ở cho nhân dân thuộc xóm A, xã Đ được Sở Địa chính duyệt ngày 26/4/2001. Diện tích đất khai hoang tại thửa số 1 mà ông T xây dựng công trình đã được bà Nguyễn Thị N2 là vợ của ông Vũ Văn C nhận tiền bồi thường hỗ trợ ngày 4/8/2000 và bàn giao mặt bằng thực hiện dự án xây dựng đường Đ Diện tích công trình ông T xây dựng tại thửa số 9 đã được chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn L1 nhận tiền bồi thường, hỗ trợ ngày 04/8/2004 và bàn giao mặt bằng thực hiện dự án dân cư dịch vụ Bãi Ấn. Tại thời điểm đó, UBND phường Đ đã lập biên bản kiểm tra xây dựng ngày 10/10/2001 về việc hộ ông Nguyễn Văn T xây dựng lấn chiếm trái phép trong khu quy hoạch khu dân cư Bãi Ấn, xã Đ đã được Sở xây dựng tỉnh Bắc Ninh phê duyệt ngày 05/7/2001. Năm 2001, dự án dân cư dịch vụ Bãi Ấn, Đại Phúc không lập phương án bồi thường, hỗ trợ đối với công trình do ông Nguyễn Văn T xây dựng lấn chiếm trái phép năm 2001 (căn cứ theo điểm a, khoản 2, điều 18, Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998 của Chính phủ).
Như vậy, hộ ông Nguyễn Văn T đang sử dụng đất có nguồn gốc là đất nông nghiệp của hộ gia đình khác đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án DCDV Bãi Ấn và dự án xây dựng đường Đ Việc UBND thành phố B ban hành Văn bản số 3137/UBND-TNMT ngày 12/11/2022 đã theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Do đó, UBND thành phố B không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- UBND phường Đ trình bày:
Hộ gia đình ông T đã xây dựng công trình lấn, chiếm trái phép trên phần diện tích đất nông nghiệp của các hộ gia đình khác đã nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng thuộc phạm vi quy hoạch của dự án dân cư dịch vụ B, khu A, phường Đ. Đây đều là hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Việc khởi kiện vụ án hành chính của 06 hộ gia đình cá nhân trong đó có gia đình ông Nguyễn Văn T nêu trên là không có cơ sở. Lý do:
Về nội dung giải quyết đơn của 06 công dân nêu trên: UBND phường Đ và UBND thành phố B đã giải quyết nhiều lần từ phường đến thành phố. Ngày 12/11/2021, UBND thành phố B đã trả lời công dân tại Văn bản số 3137/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn của công dân. Qua đó, UBND thành phố đề nghị các hộ gia đình nghiêm túc chấp hành chính sách pháp luật về đất đai, tháo dỡ tài sản, công trình xây dựng không hợp pháp trên đất nông nghiệp và bàn giao mặt bằng để dự án dân cư dịch vụ Bãi Ấn được hoàn thành và giao đất cho nhân dân theo kế hoạch. UBND phường Đ không đồng ý yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Bà Nông Thị H3 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn T và bà cũng là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Tú A. Bà thống nhất với lời trình bày của ông T, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh hủy Văn bản số 3137/UBND-TNMT ngày 12/11/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc giải quyết đơn của công dân.
Với nội dung trên tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2023/HC-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định: Căn cứ vào Điều 30; Điều 32; Điều 115; Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương; căn cứ Luật khiếu nại năm 2011, Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998 của Chính phủ;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy Văn bản số 3137/UBND-TNMT ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về việc giải quyết đơn khiếu nại đối với ông Nguyễn Văn T.
Ngoài ra bản án còn quyết định nghĩa vụ về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/5/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Phía người khởi kiện trình bày như sau: Bản án sơ thẩm giải quyết thiếu khách quan, UBND thành phố B cho rằng diện tích đất của gia đình ông T là do lấn chiếm nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh; Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ, chưa thu thập đầy đủ hồ sơ giải phóng mặt bằng dự án mở rộng đướng Đấu Mã; Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ mặc dù đã có yêu cầu của phía người khởi kiện; năm 2001 UBND phường cho rằng lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng nhưng gia đình ông T không biết, biên bản thể hiện không lập tại hiện trường mà ngồi tại UBND phường; hơn nữa năm 2006 phường Đ mới được thành lập nhưng biên bản năm 2001 đã thể hiện là UBND phường; không đưa ông C, ông L1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót; Quyết định số 802 là quyết định hành chính có liên quan đến việc thu hồi đất của gia đình ông T nhưng không được xem xét là chưa giải quyết hết nội dung vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thiếu người tham gia tố tụng là ông C, ông L1 là những người mà UBND thành phố B cho rằng do ông T lấn chiếm đất của họ, cũng như Chủ tịch UBND tỉnh B; danh sách nhận tiền bồi thường không có thửa đất số 01, nên cho rằng ông C đã nhận tiền bồi thường là thiếu căn cứ; không thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Quyết định 802 là quyết định thu hồi đất tổng thể, trong đó thể hiện diện tích đất ông T nằm trong chỉ giới đỏ bị thu hồi; bản trích sao bản đồ địa chính thể hiện diện tích đất ông C là thửa 01 và 02, nhưng Quyết định 1210 lại không phê duyệt phương án bồi thường cho gia đình ông T, nên các quyết định này gián tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi ích của ông T, Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét đối với hai quyết định này là thiếu sót, chưa giải quyết triệt để vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm có vi pham trong việc thu thập chứng cứ, không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ khi đương sự có yêu cầu là vi phạm thủ tục tố tụng; trình tự giải quyết đối với văn bản 3137 không đúng quy định về giải quyết khiếu nại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Ông Nguyễn Văn T kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử thấy như sau:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền, thời hiệu khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là văn bản só 3137/UBND-TNMT, ngày 12/11/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B, tỉnh Bắc Ninh về giải quyết khiếu nại của 06 hộ dân (trong đó có hộ ông Nguyễn Văn T). Mặc dù Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã trả lại đơn khởi kiện, vì cho rằng không phải là đối tượng khởi kiện, nhưng tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 33/2022/QĐ-HC ngày 27/6/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xác định đây là quyết định hành chính, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, nên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính. Ngày 12/11/2021, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành văn bản số 3137, ngày 20/12/2021 ông Nguyễn Văn T cùng 05 hộ gia đình đã có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh là đang trong thời hiện khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án và sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa: Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa một số đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, hoặc đã có người đại diện theo ủy quyền. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
* Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, thấy:
[3] Xét nguồn gốc sử dụng đất: Căn cứ trích đo bản đồ địa chính khu vực xin giao đất ở cho nhân dân thuộc xóm A xã Đ, được Sở Địa chính tỉnh Bắc Ninh duyệt ngày 26/4/2001, căn cứ hiện trạng sử dụng đất do UBND phường cung cấp và một số hồ sơ phương án bồi thường, hỗ trợ, đất do hộ ông Nguyễn Văn T đang sử dụng theo hiện trạng, xây dựng công trình, nhà ở trên thuộc thửa đất số 1 diện tích đo vẽ 128,2m² được ông Vũ Văn C khai hoang và một phần thửa đất số 9 diện tích đo vẽ 188,7m² trên trích đo bản đồ địa chính là đất nông nghiệp của ông L1. Căn cứ hồ sơ thu hồi đất thì hai thửa đất này đã được ông C và ông L1 nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án dân cư dịch vụ Bãi Ấn. Như vậy, ông Nguyễn Văn T sử dụng đất có nguồn gốc là đất nông nghiệp của hộ ông C và hộ ông L1 đã được bồi thường. Ông Nguyễn Văn T cho rằng nguồn gốc đất do gia đình ông khai hoang, sử dụng ổn định từ năm 1992 đến nay nhưng ông không cung cấp được chứng cứ để chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp, ngoài tờ khai sử dụng đất được lập năm 1999 và 02 biên lai nộp thuế sử dụng đất năm 1994, 1995. Nhưng đây không phải là một trong các giấy tờ được quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; danh sách thu hồi đất và bồi thường theo Quyết định số 802/QĐ-CT ngày 19/7/2002 và Quyết định số 1210/QĐ-CT ngày 22/7/2002 không có tên hộ ông Nguyễn Văn T. Hơn nữa, ngày 10/10/2001 do việc ông Nguyễn Văn T xây dựng lấn chiếm đất trái phép trong khu quy hoạch dân cư dịch vụ Bãi Ấn, nên đã bị UBND phường Đ, kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng. Do đó, văn bản số 3137 xác định công trình của gia đình ông T xây dựng trái phép do lấn chiếm, nên dự án dân cư dịch vụ Bãi Ấn không lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về trình tự ban hành văn bản, thấy: Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Lê Giang N là đại diện theo ủy quyền của 06 hộ dân; ngày 07/10/2021 UBND thành phố B đã giao cho Phòng T1 chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn xác minh, làm rõ nội dung đơn; trên cơ sở kết quả xác minh, báo cáo của tổ xác minh, báo cáo của UBND phường Đ thấy rằng việc khiếu nại của ông Nguyễn Văn T không có căn cứ, nên ngày 12/11/2021, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành văn bản số 3137 về việc giải quyết đơn của công dân là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật khiếu nại.
[5] Về xem xét quyết định hành chính có liên quan: Quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện có yêu cầu xem xét tính hợp pháp của Quyết định hành chính có liên quan là Quyết định 802/QĐ-CT ngày 19/7/2002 của UBND tỉnh B v/v thu hồi đất và giao đất cho UBND xã Đ để giao đất cho nhân dân. Tuy nhiên, nội dung khởi kiện của ông T là không đồng ý với Văn bản 3137/UBND-TNMT ngày 12/11/2021 của UBND thành phố B về xác định nguồn gốc sử dụng đất, vị trí thửa đất; Quyết định 802 của UBND tỉnh B là quyết định tổng thể về thu hồi đất, không phải là quyết định thu hồi riêng đất của ông T, tại phiên tòa phúc thẩm ông T khẳng định Quyết định 802 không thu hồi đất của gia đình ông. Do đó, nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Văn T không liên quan đến quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án hồi thường, hỗ trợ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tổng hợp các phân tích trên thấy rằng: Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T là có căn cứ, phù hợp với pháp luật; quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp luật; đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự; tại cấp phúc thẩm phía người khởi kiện xuất trình một số tài liệu, nhưng không có ý nghĩa trong việc chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ. Do đó, quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Về án phí: Ông T không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Luật Tố tụng hành chính.
Bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn T; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2023/HC-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000374, ngày 29/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; xác nhận ông T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 783/2023/HC-PT ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khởi kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 783/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Khởi kiện quyết định hành chính”
