Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 782/2023/DS-PT

Ngày 17 - 11 - 2023

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán: Ông Phan Đức Phương
Ông Hà Huy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14/11 và 17/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 458/2023/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2769/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 1967 (có mặt);

Địa chỉ: số nhà H đường N, khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Lê Văn K, sinh năm 1952; địa chỉ: khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 15 tháng 7 năm 2020 (có mặt);

- Bị đơn: bà Ngô Thị T, sinh năm 1963 (có mặt);

Địa chỉ: số nhà B đường H, khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: số C T, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 10 tháng 6 năm 2020 (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Đình M1, sinh năm 1956 (có mặt);
  2. Địa chỉ: số nhà B, đường H, khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Đình M1: bà Hồ Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: số C T, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 10 tháng 6 năm 2020 (có mặt).

  3. Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 1976 (vắng mặt);
  4. Bà Phan Thị Bích P, sinh năm 1976 (vắng mặt);
  5. Cùng địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh N1 và bà Phan Thị Bích P: ông Lê Văn K, sinh năm 1952; địa chỉ: khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 17 tháng 7 năm 2020 (có mặt).

  6. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
  7. Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin vắng mặt);

  8. Bà Hoàng Thị Hải Y, sinh năm 1987 (vắng mặt);
  9. Ông Hoàng Gia T1, sinh năm 1975 (có mặt);
  10. Cùng địa chỉ: số C N, phường E, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1: ông Nguyễn Đức M2, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ H, khu phố C, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Y, ông T1: Luật sư Võ Văn H, thuộc Văn phòng luật sư Võ Văn H (có mặt).

  11. Bà Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1995 (vắng mặt);
  12. Địa chỉ: phòng 1204-CT2B đô thị X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N2: Luật sư Nguyễn Minh N3, thuộc Công ty L3 (có mặt).

  13. Ông Nguyễn Văn N4, sinh năm 1961 (có mặt);
  14. Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ông Nguyễn Văn N4 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Hồng M. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 15 tháng 9 năm 2020.

  15. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
  16. Người bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp: Ông Phan Thành L, Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (có đơn xin vắng mặt);

  17. Phòng C2, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin vắng mặt);
  18. Địa chỉ: số F N, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: bà Phạm Thị Hồng L1, sinh năm 1966 và ông Võ Chí C, sinh năm 1960;

Cùng cư trú tại: Khu phố L, S, phường M, thành phố P (vắng mặt);

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Ngô Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình M1; ông Nguyễn Minh N1 và bà Phan Thị Bích P; bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng M và người đại diện trình bày:

Tài sản tranh chấp là 01 căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 223,74m² tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80 thuộc khu phố L, phường M, TP ., tỉnh Bình Thuận. Nguồn gốc ban đầu là của ông Võ Chí C, vào năm 2009 ông Võ Chí C bán lại cho bà Phạm Thị Hồng L1. Đến năm 2011 bà L1 bán lại cho bà Nguyễn Thị Hồng M với giá 600.000.000 đồng. Do đất và nhà chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nên bà L1 viết giấy tay mua bán cho bà Nguyễn Thị Hồng M, có xác nhận của ông Trung khu p Trưởng khu phố L, phường M, đồng thời bà L1 giao cho bà giấy viết tay mà trước đây bà L1 mua đất và nhà này của ông C.

Sau đó bà Nguyễn Thị Hồng M có đi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, nhưng UBND Phường trả lời khu vực này chưa được cấp giấy. Năm 2013 bà nhờ em bà là Nguyễn Minh N1 gặp ông Trung khu p trưởng L, nhờ ông khi nào có chủ trương cho làm giấy thì ông giúp làm cho gia đình, em bà đưa các giấy mua bán viết tay nói trên cho ông T2 giữ.

Ngày 10/4/2015 bà cho ông N1 mượn căn nhà này (không có giấy mượn) thế chấp cho vợ chồng bà Ngô Thị T và Lê Đình M1 để vay 300.000.000 đồng làm ăn, lãi suất 02%/tháng, hạn thanh toán cả nợ gốc và lãi vào ngày 14/10/2017. Bà T bắt em bà viết giấy bán nhà cho vợ chồng bà T để bảo đảm khoản vay, đồng thời bà T viết một giấy cho em bà được chuộc nhà trong vòng 24 tháng kể từ ngày 10/4/2015.

Khoảng tháng 3/2019 bà M1 phát hiện vợ chồng bà T đang rao bán nhà đất của bà nêu trên kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298290 do U cấp ngày 21/7/2017 nên làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

Nay bà Nguyễn Thị Hồng M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Yêu cầu vợ chồng bà Ngô Thị T trả lại căn nhà cấp 4 trên diện tích đất tại thửa đất số 34 tờ bản đồ số 80 cho bà Nguyễn Thị Hồng M;
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298290 do UBND thành phố P cấp ngày 21/7/2017 cho bà Ngô Thị T.
  • Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Ngô Thị T, ông Lê Đình M1 cho bà Hoàng Thị Hải Y được Văn phòng công chứng số 01 tỉnh Bình Thuận chứng thực vào ngày 12/6/2019, số công chứng 6486, quyển số: 06TP/CC-SCC/HĐGD là hợp đồng vô hiệu;
  • Hủy cập nhật biến động của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ về việc chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298209 vào ngày 12/7/2019 cho cho bà Hoàng Thị Hải Y, sinh năm 1987; địa chỉ: 3 N, phường E, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn do bà Hồ Thị N đại diện trình bày: vào ngày 10/4/2015 vợ chồng bà Ngô Thị T, ông Lê Đình M1 có mua 01 thửa đất và căn nhà cấp 4 trên đất của vợ chồng ông Nguyễn Minh N1, bà Phan Thị Bích P với giá 300.000.000 đồng. Có tứ cận: Đông giáp: nhà ông Đặng Thành L2; Tây giáp: nhà ông Hồ Văn C1; Nam giáp: vườn xoài; Bắc giáp: đường X. Nhà và đất tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P.

Sau khi hai bên ký giấy chuyển nhượng xong, bà T đã giao đủ tiền cho ông N1, bà P. Ông N1, bà P cũng đã bàn giao tài sản trên cho vợ chồng bà T, có sự chứng kiến của ông khu phố T khu phố L tên Nguyễn Trung .

Ngoài ra, ông N1, bà P còn năn nỉ vợ chồng bà sau này vợ chồng ông N1 có điều kiện thì cho chuộc lại. Vợ chồng bà T đồng ý cho vợ chồng ông N1 chuộc lại trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày viết giấy chuyển nhượng (ngày 10/4/2015), với tiền gốc: 300.000.000 đồng + lãi suất 2%/tháng. Sau 02 năm thì vợ chồng bà có quyền làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nhưng sau 02 năm, bà T có gặp bà P để hỏi về việc chuộc lại nhà và đất, nhưng bà P không có ý kiến gì.

Hết thời hạn thỏa thuận nhưng vợ chồng ông N1, bà P không đến gặp bà T mặc dù bà đã nhắc nhở bà P nhiều lần. Vì vậy, vợ chồng bà T mới làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/7/2017, UBND thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298209 đứng tên Ngô Thị T.

Đến ngày 12/6/2019 vợ chồng bà T đã bán tài sản trên cho bà Hoàng Thị Hải Y theo giá trong hợp đồng là 230.000.000 đồng.

Trước yêu cầu của bà M1, vợ chồng bà Ngô Thị T, ông Lê Đình M1 không đồng ý vì nhà và đất vợ chồng bà T mua lại của vợ chồng ông N1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1 do ông Nguyễn Đức M2 đại diện trình bày: theo hợp đồng ký kết ngày 12/6/2019 bà Hoàng Thị Hải Y có nhận chuyển nhượng của bà Ngô Thị T và ông Lê Đình M1 thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, diện tích 223.4m², tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P theo hợp đồng là 230.000.000 đồng. Tuy nhiên theo giấy viết tay ngày 14/5/2019 thì hợp đồng được đặt cọc 350.000.000 đồng và phần còn lại 3.150.000.000 đã thực hiện đầy đủ vào ngày công chứng giấy tờ là ngày 12/6/2019. Sau đó bà Y làm thủ tục và được Văn phòng Đ cập nhật biến động ngày 12/7/2019. Đến ngày 11/01/2021 bà Hoàng Thị Hải Y làm thủ tục chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng N2 thửa đất trên, theo hợp đồng công chứng thì giá trị tài sản là 680.000.000 đồng.

Trước yêu cầu của nguyên đơn, ông T1 và bà Y không đồng ý vì việc nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ vợ chồng bà Ngô Thị T là hoàn toàn hợp pháp, tài sản đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và việc mua bán đã được công chứng chứng thực theo đúng quy định của pháp luật.

Người liên quan ông Nguyễn Minh N1, bà Phan Thị Bích P do ông Lê Văn K đại diện trình bày: vào năm 2015 vợ chồng ông N1 mượn chị ruột là bà Nguyễn Thị Hồng M 01 căn nhà tọa lạc tại khu phố L, phường M, thành phố P để thế chấp cho bà T lấy tiền làm ăn, khi mượn không làm giấy tờ gì và có thế chấp 300.000.000 đồng từ bà T. Trong vòng 02 năm thì bà T yêu cầu trả tiền thì cho chuộc lại. Đến hạn chuộc thì phía ông N1 có đến xin chuộc lại căn nhà và thửa đất trên và bà T có báo là tài sản trên đã làm giấy chứng nhận. Trong quá trình bà T làm sổ đỏ thì vợ chồng ông N1, bà P không ký bất cứ một giấy tờ gì về việc làm sổ đỏ căn nhà này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng N2 do ông Trương Văn H1 đại diện trình bày: ngày 11/01/2021 giữa bà N2 và bà Hoàng Thị Hải Y, ông Hoàng Gia T1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đối với thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, khu phố L, phường M, thành phố P với giá chuyển nhượng là 3.500.000.000 đồng. Bà N2 đã giao đủ tiền và ông T1, bà Y đã bàn giao toàn bộ tài sản trên đất cho bà N2. Sau đó, bà N2 đã làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đã thực hiện nghĩa vụ thuế và có giấy hẹn ngày 08/02/2021 nhận kết quả. Đến ngày nhận kết quả thì được Chi nhánh văn phòng Đ báo là đất đang tranh chấp nên không cập nhật biến động sang tên cho bà N2 được.

Việc chuyển nhượng thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, khu phố L, phường M, thành phố P của bà N2 với bà Y, ông T1 là hợp pháp, vì vậy bà N2 đề nghị Toà án công nhận việc chuyển nhượng này. Và không đồng ý trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N4 do bà Nguyễn Thị Hồng M đại diện trình bày: năm 2011 ông và vợ ông là Nguyễn Thị Hồng M có sang nhượng lại một căn nhà cấp 4 nằm với diện tích 223,74m² của bà Phạm Thị Hồng L1. Nguồn gốc đất do bà L1 sang nhượng lại của ông Võ Chí C vào năm 2009. Do lúc này nhà và diện tích đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ viết giấy tay. Giấy viết tay này có xác nhận của ông Khu p1 trưởng khu phố L, phường M.

Vào năm 2015, vợ ông thấy em trai tên là Nguyễn Minh N1 cần vốn để làm ăn nên đã dấu ông cho ông Nguyễn Minh N1 mượn căn nhà cấp 4 để thế chấp cho bà Ngô Thị T vay 300 triệu đồng. Việc vợ ông cho ông N1 mượn căn nhà để thế chấp vì không báo với ông biết nên chị em không có làm giấy tờ gì.

Sau này ông mới được biết khi Nguyễn Minh N1 vay bà Ngô Thị T số tiền 300.000.000 đồng thì vợ chồng bà T bắt Nguyễn Minh N1 viết giấy sang nhượng lại ngôi nhà cấp 4 cho vợ chồng bà Ngô Thị T, đồng thời bà T làm giấy cho Nguyễn Minh N1 được chuộc lại nhà trong vòng 24 tháng. Đến năm 2017 bà Ngô Thị T đã khai báo gian dối với các cơ quan chức năng xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngôi nhà cấp 4 và diện tích đất nếu trên.

Ngày 21/07/2017 U đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị T số CG 298 290.

Sau này ông cũng được biết, sau khi bà Ngô Thị T được UBND Thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên, thì ngày 12 /6 /2019 bà Ngô Thị T đã làm hợp đồng chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1. Ngày 12/7/2019, Văn phòng Q đã cập nhật biến động thửa đất nêu trên cho bà Y và ông T1.

Qua sự việc nêu trên ông thấy: ngôi nhà cấp 4 và diện tích đất nêu trên là tài sản của vợ chồng tôi đã sang nhượng lại của bà L1. Vào năm 2015, vợ ông đã lén lút cho em trai là Nguyễn Minh N1 mượn mà không trao đổi với ông để cho N1 thế chấp vay tiền của bà T là không đúng.

Bà Ngô Thị T đã tự ý khai báo không trung thực về nguồn gốc ngôi nhà và diện tích đất với các cơ quan chức năng để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND thành phố P cấp vợ chồng bà T đã làm hợp đồng chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1 là vi phạm pháp luật.

Do vậy ông thống nhất theo toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố P tại Văn bản số 6313/UBND-TH, ngày 16 tháng 9 năm 2020 trình bày: căn cứ quy định pháp luật, UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298209 ngày 21/7/2017 cho bà Ngô Thị T, đối với thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, diện tích 223,40m², loại đất ở tại đô thị là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Căn cứ để cấp Giấy chứng nhận: Luật Đất đai năm 2013; Điều 20, Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Theo hồ sơ tài liệu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298209 ngày 21/7/2017 cấp cho bà Ngô Thị T đã xác nhận thay đổi cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Hải Y, do Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận ngày 12/7/2019.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B do ông Phan Thành L đại diện trình bày: ngày 21/7/2017, UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số CG 298209 cho bà Ngô Thị T, với diện tích: 223,4 m², đất ở tại đô thị, tại phường M, thành phố P.

Ngày 12/6/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Ngô Thị T sang bà Hoàng Thị Hải Y đối với khu đất đã được cấp Giấy chứng nhận số CG 298209. Qua thẩm tra hồ sơ, căn cứ Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Ngày 12/7/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ đã xác nhận tại trang 4 Giấy chứng nhận số CG 298209; với nội dung: Chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Hải Y.

Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng Đ đang giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Hoàng Thị Hải Y sang bà Nguyễn Thị Hồng N2 đối với khu đất đã được cấp Giấy chứng nhận số CG 298209.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3, tỉnh Bình Thuận tại Văn bản số 179/CV-PCC, ngày 06 tháng 12 năm 2022 trình bày: ngày 12/6/2019, Phòng C2 có thụ lý lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên:

  • Bên chuyển nhượng: bà Ngô Thị T; sinh năm 1963 và ông Lê Đình M1, sinh năm 1956 cùng thường trú tại khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • Bên nhận chuyển nhượng: bà Hoàng Thị Hải Y; sinh năm 1987; thường trú tại 3 N, phường E, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Khi làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có liên quan đến giấy chứng nhận số CG 298209, bên chuyển nhượng bà Ngô Thị T và ông Lê Đình M1 đã cung cấp cho công chứng viên các loại giấy tờ có liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng như: giấy tờ tuỳ thân mang tên ông M1, bà T; sổ hộ khẩu gia đình mang tên chủ hộ là ông Lê Đình M1; giấy khai sinh mang tên Lê Đình M3; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CG 298209 vào sổ cấp GCN: CH 01767 do UBND thành phố P cấp ngày 21/7/2017 được cập nhật biến động ngày 16/6/2017 và ngày 03/6/2019; phiếu yêu cầu công chứng. Đối với bên nhận chuyển nhượng có giấy tờ tuỳ thân, sổ hộ khẩu; phiếu yêu cầu công chứng của bà Hoàng Thị Hải Y.

Sau khi các bên đã cung cấp đầy đủ các loại giấy có liên quan đến việc chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật về công chứng. Công chứng viên đã kiểm tra chữ ký, điểm chỉ của các bên tham gia giao dịch, kiểm tra thông tin có liên quan đến tài sản và đã thực hiện việc chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng số 6486, quyển số 06TP/CC-SCC/HĐGĐ (đính kèm bản sao hợp đồng chuyển nhượng).

Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên tham gia đã tự nguyện thoả thuận giao kết hợp đồng, cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung của hợp đồng; các bên đều có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật; đồng thời khi tham gia giao kết trong hợp đồng đã đồng ý toàn bộ nội dung đã ký, điểm chỉ vào hợp đồng.

Theo chứng thư thẩm định giá số 2077HCM/2022/CT-TĐG/AVC, ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Công ty TNHH Đ1 thì thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80; địa chỉ: khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có diện tích 223,4m², trị giá 5.184.444.000 đồng.

Tại phiên hòa giải ngày 07/3/2023 tất cả đương sự đều thống nhất tài sản tranh chấp trị giá 5.184.444.000 đồng và không yêu cầu Tòa án định giá lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

Căn cứ vào: khoản 2, 3 Điều 26, Điều 34, Điều 219, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 34 Luật tố tụng hành chính; Điều 117, 123, 131, 133 và khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 101, 102 và Điều 188 Luật đất đai năm 2013 và khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng M.

  1. Xác định thửa đất số 134, diện tích 223.4m², tờ bản đồ số 80, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Hồng M và Nguyễn Văn N4.
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng M và Nguyễn Văn N4 có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đối với thửa đất số 134, diện tích 223.4m², tờ bản đồ số 80, tại khu phố L, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo đúng quy định của pháp luật.

  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298290, ngày 21/7/2017 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho bà Ngô Thị T đối với thửa đất số 134, diện tích 223.4m², tờ bản đồ số 80, tại khu phố L, phường M, Tp tỉnh Bình Thuận.
  4. Tuyên bố “Giấy bán nhà” đề ngày 10/4/2015 giữa ông Nguyễn Minh N1 và bà Phan Thị Bích P với bà Ngô Thị T và ông Lê Đình M1 đối với nhà cấp 4 tại khu phố L, phường M, thành phố P là giao dịch dân sự vô hiệu.
  5. Buộc ông Nguyễn Minh N1 và bà Phan Thị Bích P phải trả lại cho ông Lê Đình M1 và bà Ngô Thị T số tiền đã nhận 300.000.000 đồng và bồi thường số tiền 2.442.222.000 đồng. Tổng cộng 2.742.222.000 đồng.

  6. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/6/2019 giữa bà Ngô Thị T và ông Lê Đình M1 với bà Hoàng Thị Hải Y đối với thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, diện tích 223.4m² tại khu phố L, phường M, thành phố P vô hiệu.
  7. Buộc ông Lê Đình M1 và bà Ngô Thị T phải trả lại cho bà Hoàng Thị Hải Y số tiền 3.500.000.000 đồng và bồi thường số tiền 1.684.444.000 đồng. Tổng cộng 4.342.222.000 đồng.

  8. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 11/01/2021 giữa bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1 với bà Nguyễn Thị Hồng N2 với đối với thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, diện tích 223.4m², tại khu phố L, phường M, thành phố P vô hiệu.
  9. Buộc bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng N2 số tiền 3.500.000.000 đồng và bồi thường số tiền 1.684.444.000 đồng. Tổng cộng 5.184.444.000 đồng.

  10. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N2 phải giao trả lại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 80, diện tích 223.4m² tại khu phố L, phường M, thành phố P cho bà Nguyễn Thị Hồng M và Nguyễn Văn N4.
  11. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  12. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá: Bà Nguyễn Thị Hồng M chịu toàn bộ số tiền mà bà đã tạm ứng.
  13. [3] Về án phí:

    [3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

    • Bà Nguyễn Thị Hồng M không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Hồng M 600.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007315 ngày 03 tháng 6 năm 2020 và biên lai thu tiền số 0008462 ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
    • Ông Nguyễn Minh N1 và bà Phan Thị Bích P phải liên đới nộp 86.844.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ông Lê Đình M1 và bà Ngô Thị T phải liên đới nộp 113.184.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Hoàng Thị Hải Y và ông Hoàng Gia T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Nguyễn Thị Hồng N2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà N2 đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0008499, ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận được chuyển thành án phí.

    [3.2] Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Ngô Thị T, ông Lê Đình M1 được miễn án phí phúc thẩm.

    Ông Nguyễn Minh N1, bà Phan Thị Bích P phải chịu mỗi người 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu tiền số 0015367, số 0015368 ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, đương sự đã nộp đủ.

    Bà Hoàng Thị Hải Y, ông Hoàng Gia T1 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Hoàng Thị Hải Y, ông Hoàng Gia T1 mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0015356, 0015357 ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

  14. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  15. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - Đương sự (12);
  • - Lưu VP (3). HS (2). T 25 (QĐ36)

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thành Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 782/2023/DS-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính

  • Số bản án: 782/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger