TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN - T. BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 781/2024/HNGĐ-ST Ngày 28 - 8 - 2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Huy Huệ
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Đông
- 2. Ông Nguyễn Văn Sỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn.
- Đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 596/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Trà M, sinh năm: 1996
- Địa chỉ: Tổ E, KV1, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định.
- Chỗ ở hiện nay: 09/14 L, P. B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Anh Lê Huỳnh Kim N, sinh năm: 1992
- Nơi cư trú: Tổ E, KV1, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định.
(Chị M, anh N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Võ Trà M:
Chị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện đề ngày 02/7/2024, quá trình giải quyết vụ án chị M trình bày: Chị và anh Lê Huỳnh Kim N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại U, thị xã A, tỉnh Bình Định vào ngày 08/6/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế vợ chồng gặp nhiều khó khăn, cha mẹ hai bên không hoà thuận dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tình cảm nhạt dần. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh N; Về con chung, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Võ Hoàng T1, sinh ngày 03/8/2019. Hiện nay cháu đang ở với chị, sức khỏe tốt. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con, vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Huỳnh Kim N:
Anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại bản khai ngày 17/7/2024, anh N thống nhất thời gian và điều kiện kết hôn như chị M trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng, theo anh N, vợ chồng có mâu thuẫn nhưng có thể khắc phục được. Anh không đồng ý ly hôn vì không muốn con thiếu tình thương của ông bà, cha mẹ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 Luật HNGĐ 2014: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Trà M được ly hôn anh Lê Huỳnh Kim N; Giao cháu Lê Võ Hoàng T1 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con. Về án phí, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Võ Trà M và anh Lê Huỳnh Kim N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án (theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự).
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Võ Trà M và anh Lê Huỳnh Kim N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại U, thị xã A, tỉnh Bình Định vào ngày 08/6/2018, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa chị M và anh N đã phát sinh mâu thuẫn. Anh N không đồng ý ly hôn nhưng không có thiện chí hoà giải để tìm cách khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. HĐXX xét: Hôn nhân của chị M, anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị M là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
[2.2] Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Võ Hoàng T1, sinh ngày 03/8/2019. HĐXX xét: Cháu T1 hiện đang sống với chị M và được đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị M giao cháu T1 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa không xem xét giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Chị M không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác nếu có yêu cầu.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Chị M phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử.
- Về hôn nhân: Cho chị Võ Trà M ly hôn anh Lê Huỳnh Kim N.
- Về nuôi con chung:
- Giao con chung là cháu Lê Võ Hoàng T1, sinh ngày 03/8/2019 cho chị Võ Trà M được trực tiếp nuôi dưỡng.
- Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa không xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản: Chị M và anh N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Trà M phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001249 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn. Chị M đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Huy Huệ |
Bản án số 781/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 781/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Võ Trà M kiện ly hôn anh Lê Huỳnh Kim N
