|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 780/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Nhung
- Ông Trần Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 595/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 07 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1171/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Khương Thị Ngọc H, sinh năm: 1969
Địa chỉ: 3 Khu Ô, phường P, quận T, Tp .
Bị đơn: Ông Trần Anh Q, sinh năm: 1965
Địa chỉ: 3 Khu Ô, phường P, quận T, Tp .
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Q có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai và biên bản hoà giải tại Toà án, nguyên đơn - bà Khương Thị Ngọc H trình bày:
Bà Khương Thị Ngọc H và ông Trần Anh Q tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới vào năm 1985 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận A, Tp . theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 08/4/1992. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau một thời gian thì thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, khác biệt về lối sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đôi bên đã ngồi lại tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Bà và ông Q đã ly thân từ hơn 06 tháng nay. Nay nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần giải thoát cho nhau để mỗi người có một cuộc sống riêng nên bà H yêu cầu Toà án cho bà được ly hôn với ông Trần Anh Q.
Về con chung: Bà và ông Q có 03 con chung tên Trần Thu N, sinh ngày 31/5/1992; Trần B, sinh ngày 09/11/1987 và Trần Minh T, sinh ngày 20/11/1993. Ba con chung đã trưởng thành và phát triển khỏe mạnh, bình thường.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn - ông Trần Anh Q trình bày:
Ông và bà H tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới năm 1985 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận A, Tp. theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 08/4/1992.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau một thời gian thì có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà H đã nhiều lần không chung thủy với ông. Sau khi phát hiện bà H có người khác, tuy rất buồn nhưng ông vẫn tha thứ cho bà H. Từ lúc bà H chuyển ra khỏi nhà, bà H chặn mọi thông tin liên lạc, nếu cần trao đổi thông tin đều thông qua con gái Trần Thu N. Ông rất yêu thương vợ nên đã tìm mọi cách để liên lạc, hàn gắn, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông không đồng ý do ông còn rất yêu thương vợ.
Về con chung: Bà và ông Q có 03 con chung tên Trần Thu N, sinh ngày 31/5/1992; Trần B, sinh ngày 09/11/1987 và Trần Minh T, sinh ngày 20/11/1993. Ba con chung đã trưởng thành và phát triển khỏe mạnh, bình thường.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn bà Khương Thị Ngọc H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn ông Trần Anh Q trình bày: Ông và bà H tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới năm 1985 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận A, Tp . theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 08/4/1992. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 1995 đến nay, ông Q có chứng bệnh không dám chạy xe nên ông không thường xuyên chở bà H đi chơi được, từ đó tình cảm vợ chồng có phần xa cách. Bà H đã nhiều lần không chung thủy với ông. Sau khi phát hiện bà H có người khác, tuy rất buồn nhưng ông vẫn tha thứ cho bà H. Từ lúc bà H chuyển ra khỏi nhà, bà H chặn mọi thông tin liên lạc, nếu cần trao đổi thông tin đều thông qua con gái Trần Thu N. Ông còn thương bà H nên đã tìm mọi cách để liên lạc, hàn gắn, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông không đồng ý do ông còn rất yêu thương vợ. Ông đề nghị Hội đồng xét xử hàn gắn lại tình cảm cho ông và bà H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định vụ án quan hệ tranh chấp của vụ án trên là tranh chấp ly hôn, ông Q hiện đang cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn - bà Khương Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
- Xét yêu cầu ly hôn của bà Khương Thị Ngọc H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hôn nhân giữa bà Khương Thị Ngọc H và ông Trần Anh Q là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 08/4/1992 do Ủy ban nhân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông bà.
Xét thấy mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông Q là có thật, ông Q cũng xác nhận giữa ông bà có tồn tại mâu thuẫn. Hiện nay, bà H đã chuyển ra ngoài sinh sống và ông Q, bà H không còn liên lạc với nhau do bà H chặn số điện thoại của ông Q. Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng, quan tâm giúp đỡ và gắn kết với nhau nhưng giữa bà H và ông Q hiện thực đã không còn sự gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Thu N, sinh ngày 31/5/1992; Trần B, sinh ngày 09/11/1987 và Trần Minh T, sinh ngày 20/11/1993. Ba con chung đã trưởng thành và phát triển khỏe mạnh, bình thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Hai bên đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Khương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004626 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà H đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Khương Thị Ngọc H
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Khương Thị Ngọc H được ly hôn với ông Trần Anh Q. Quan hệ hôn nhân của bà Khương Thị Ngọc H và ông Trần Anh Q chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 08/4/1992 do Ủy ban nhân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà H và ông Q không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Thu N, sinh ngày 31/5/1992; Trần B, sinh ngày 09/11/1987 và Trần Minh T, sinh ngày 20/11/1993. Ba con chung đã trưởng thành và phát triển khỏe mạnh, bình thường. Ba con chung đã trưởng thành và phát triển khỏe mạnh, bình thường.
- Về tài sản chung: Hai bên đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Bà Khương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004626 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà H đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Bà Khương Thị Ngọc H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ. Ông Trần Anh Q được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Huyền Minh |
Bản án số 780/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 780/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
