TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 780/2023/DS-PT
Ngày 16-11-2023
V/v: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở vô hiệu”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.
- Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên.
- Ông Lê Thành Long.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 09 tháng 11 đến ngày 16 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 366/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2351/2023/QĐPT-DS ngày 30 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Xuân H (Tram Huong X), sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số F, A, C, N, Hoa Kỳ.
Người đại diện hợp pháp:
- Ông Nguyễn Hiền P, sinh năm 1973 (có mặt).
- Ông Nguyễn Hiền C, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường H, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Theo Giấy ủy quyền ngày 08/6/2022).
Địa chỉ: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Theo Giấy ủy quyền ngày 08/6/2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Ngọc M – Đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1962 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1965 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số F, đường H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đinh Thanh M1, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: Số A H, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền ngày 12/4/2023).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố L.
- Phòng C3 tỉnh An Giang.
- Bà Cao Hồng H2, sinh năm 1991 (có mặt).
- Bà Phạm Ngọc Xuân B (P1), sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Ông Phạm Phước T (Pham T), sinh năm 1975 (vắng mặt).
- Ông Phạm Phú C1 (Pham C), sinh năm 1985 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hiền P, sinh năm 1973 (có mặt).
- Ông Nguyễn Hiền C, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Số 1, đường N nối dài, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp: Bà Đặng Thị Hoa R; Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp: Lý Đăng N; Chức vụ: Trưởng phòng.
Địa chỉ: Số B, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số E, R, C, N, Hoa Kỳ.
Địa chỉ: Số D, Beaver D, C, N, Hoa Kỳ.
Địa chỉ: Số F, A, C, N, Hoa Kỳ.
Người đại diện hợp pháp của bà B, ông T và ông C1:
Địa chỉ: Số A, đường H, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Theo giấy ủy quyền ngày 08/6/2022).
Địa chỉ: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Theo giấy ủy quyền ngày 08/6/2022).
Người kháng cáo:
Nguyên đơn, bà Phạm Thị Xuân H.
Bị đơn, ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Ánh .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, bà Phạm Thị Xuân H và người đại diện hợp pháp trình bày:
Nhà đất tại số B+27D2, Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang có nguồn gốc của ông Phạm Văn B1 và bà Nguyễn Thị Ngọc D (cha mẹ của bà Phạm Thị Xuân H) để lại. Năm 2002, bà D gởi tiền về cho bà Nguyễn Thị Ánh T1 (chị ruột) mua 02 nền đất tại Lô B+27D2, Đinh Trường S. Năm 2003, bà D tiếp tục gởi tiền về cho bà T1 để xây nhà trên 02 nền đất đã mua. Căn nhà có diện tích xây dựng 112m², diện tích sàn 381,6m², khung bê tông cốt thép, số tầng 04. Sau khi hoàn thành, vợ chồng bà D về nước và có tổ chức lễ Tân gia, có ghi hình rõ ràng.
Do định cư tại Hoa Kỳ, không được đứng tên nhà, đất tại Việt Nam nên ông B1, bà D đã nhờ bà T1 và ông Nguyễn Văn C2 (chồng bà T1) đứng tên dùm theo Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004, được vợ chồng ông B1, bà D và vợ chồng ông C2, bà T1 cùng ký tên, có người làm chứng là Luật sư Hồ Phước H3 và theo Tờ di chúc ngày 09/10/2004 do ông C2 và T1 lập, có Công chứng tại Phòng C3 tỉnh An Giang. Lợi dụng việc bà D chết năm 2009, bà T1 chết năm 2010 trong khi ông B1 già yếu, ông C2 và ông Nguyễn Mạnh H1 lập các thủ tục gian dối để chiếm đoạt, quản lý, sử dụng nhà đất nói trên.
Nay nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Á phải trả lại nhà, đất tại Lô B+B Đ, phường Đ, thành phố L cho thừa kế của ông B1 và bà D gồm: Bà Phạm Thị Xuân H, Phạm Ngọc Xuân B, ông Phạm Phước T và Phạm Phú C1; Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số CH01686, do UBND thành phố L cấp ông H1 và bà Á ngày 04/06/2015; Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất được lập tại Phòng C3 tỉnh An Giang ngày 19/5/2015 giữa ông C2 với ông H1 và bà Á.
Bị đơn, ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Á trình bày:
Ông H1, bà Á không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi vì: Các hợp đồng tặng cho hoặc phân chia tài sản thừa kế đều được chứng thực hợp pháp; Việc nguyên đơn cho rằng bị đơn bỏ sót người thừa kế theo di chúc do ông C2, bà Á lập ngày 09/10/2004 là không chính xác; Lúc còn sống thì ông B1 cũng xác định di chúc này đã được hủy bỏ. Nhà đất đang tranh chấp là tài sản hợp pháp của bị đơn và đang cho bà Cao Hồng H2 thuê trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 19/10/2022. Hợp đồng này các bên không tranh chấp.
Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phần tiền sửa chữa nhà (nếu có) chúng tôi sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Cao Hồng H2 trình bày: Bà đang thuê nhà đang tranh chấp theo hợp đồng ngày 19/10/2022, thời hạn 02 năm. Bà H2 không có ý kiến gì về tranh chấp trên và chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật.
UBND thành phố L trình bày: Xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án các cấp.
Phòng C3 tỉnh An Giang trình bày: Xin được vắng mặt, và không có ý kiến trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 143, 144, 145, 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 255, 256 và Điều 635 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 7, Điều 8, điều 159 của Luật Nhà ở 2014; Khoản 6 Điều 5 và Điều 186 của Luật Đất đai 2013; Điều 5, Điều 74 và Điều 75 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở 2014; Án lệ số 02/2016/AL được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Xuân H.
- Buộc ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị Á phải có nghĩa vụ trả lại cho những người thừa kế của ông Phạm Văn B1, bà Nguyễn Thị Ngọc D gồm: Phạm Thị Xuân H (Tram Huong X), Phạm Ngọc Xuân B (Pham Xuan B), Phạm Phước T (Pham T) và Phạm Phú C1 (Pham C) diện tích đất 112m², thửa đất số 88, tờ bản đồ số 23; gắn liền diện tích đất là diện tích nhà ở 112m², diện tích sàn 381,6m² (nhà đúc bê tông cốt thép, 01 tầng trệt, 01 tầng lững và 02 tầng lầu).
Nhà đất tọa lạc Số 26 và 27, đường Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất số CH01686, ngày 04/6/2015 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho ông H1, bà Á.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất số CH01686, ngày 04/6/2015 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị Ánh .
Bà Phạm Thị Xuân H, bà Phạm Ngọc Xuân B; ông Phạm Phước T và ông Phạm Phú C1 có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam để lập thủ tục kê khai, đăng ký lại quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật đất đai và nhà ở.
- Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất được lập tại Phòng C3 tỉnh An Giang ngày 19/5/2015 giữa ông Nguyễn Văn C2 với ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Ánh .
- Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2022/QĐ-BPKCTT, ngày 04/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang phong toả quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất số CH01686, ngày 04/6/2015 do UBND thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị Ánh .
- Huỷ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 01/2022/QĐ-BPBĐ, ngày 01/7/2022 và hoàn trả cho ông Nguyễn Hiền P số tiền 200.000.000 đồng đã nộp vào sổ tiết kiệm có kỳ hạn ngày 04/7/2022 và tiền lãi phát sinh (nếu có) tại Ngân hàng N1 Chi nhánh tỉnh A khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12/4/2023, bị đơn ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Á kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Ngày 21/4/2023, đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị Xuân H kháng cáo yêu cầu trả lại nhà đất. Trường hợp Tòa án buộc bị đơn trả lại giá trị tài sản cho nguyên đơn thì yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nhà đất tại số B+27D2, Đinh Trường S là tài sản của ông B1 và bà D do bà D nhờ bà T1 đứng tên dùm, được các bên xác nhận tại Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Đối với yêu cầu giám định tài liệu là Giấy mua bán đất ngày 16/4/2015 và giấy Biên nhận ngày 6/5/2015, có chữ ký của ông B1 thì nguyên đơn không đồng ý, đề nghị Tòa án xác định các tài liệu này không có giá trị.
Nguyên đơn kháng cáo nội dung: Nếu nguyên đơn không đủ điều kiện được cấp giấy CNQSDĐ tại Việt Nam thì đề nghị Tòa án tiến hành định giá lại tài sản để hưởng giá trị nhà đất.
Bị đơn trình bày:
Nhà đất tại số B+27D2, Đinh Trường S là tài sản của ông C2, bà T1. Trước đó, ông C2, bà T1 có mượn tiền của ông B1, bà D để mua đất và xây nhà. Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 có nội dung mượn tiền không phải đứng tên dùm nhà đất như nguyên đơn trình bày.
Sau đó, chính ông B1 đã xác nhận di chúc do ông C2 và T1 lập ngày 09/10/2004 có nội dung để lại thừa kế căn nhà số B+27 D2 cho ông B1, bà D không còn giá trị theo thỏa thuận ngày 13/4/2015; Đồng thời, ông B1 đã bán nhà đất cho bị đơn theo Giấy mua bán đất ngày 16/4/2015 với giá 60.000USD, ông B1 đã nhận 25.000USD theo Biên nhận ngày 6/5/2015. Các giấy tờ trên do ông B1 ký tên. Ngoài ra, giữa nguyên đơn và bị đơn cũng trao đổi qua điện thoại việc thanh toán khoản nợ theo xác nhận của bị đơn khi đã mua nhà đất của ông B1 với giá 60.000USD.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét các tài liệu trên nhưng lại xác định cha mẹ bị đơn đứng tên dùm nhà đất cho ông B1, bà D là không đúng. Bị đơn xác định còn nợ tiền mua nhà đất 35.000USD nên đồng ý trả số tiền trên và lãi theo quy định cho thừa kế của ông B1, bà D. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 để xác định bà D nhờ bà T1 đứng tên dùm nhà đất tại số B+27D2, Đinh Trường S là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 có chữ ký của ông C2, bà T1 và ông B1, bà D thể hiện việc mượn tiền, không có nội dung đứng tên giùm nhà đất. Di chúc ngày 09/10/2004 của ông C2 và T1 chỉ là việc đảm bảo cho khoản vay tiền mua đất xây nhà.
Hồ sơ vụ án thể hiện: Trước khi chết thì ông B1 đã lập Tờ thỏa thuận ngày 13/4/2015 có nội dung hủy bỏ Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 và di chúc ngày 09/10/2004. Sau đó, ông B1 còn ký giấy mua bán nhà ngày 16/4/2015 có nội dung bán nhà cho ông H1, giá 60.000USD và đã nhận 25.000USD theo biên nhận ngày 06/5/2015.
Mặt khác, khi cho rằng có việc đúng tên dùm thì các thừa kế của ông B1, bà D cũng không đủ điều kiện được cấp giấy CNQSDĐ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại buộc bị đơn trả lại nhà đất cho nguyên đơn và thừa kế của ông B1, bà D mà không buộc bị đơn trả giá trị là không đúng pháp luật.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông H1, bà Á, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Đối với kháng cáo của bà H sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thụ lý vụ án và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Bà Phạm Thị Xuân H, ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Á kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về định giá tài sản: Tại Biên bản định giá ngày 24/8/2022 đã xác định giá trị quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất, có đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn tham gia và ký xác nhận. Quá trình tố tụng, các đương sự không có ý kiến về giá trên nên ngày 6/4/2023, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án theo Biên bản định giá ngày 24/8/2022 là đúng quy định. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu định giá lại nhưng không thuộc trường hợp định giá lại theo quy định tại khoản 5 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về nội dung:
[3] Tại Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 có chữ ký của ông B1, bà D, ông C2, bà T1 và người làm chứng là Luật sư Hồ Phước H3 (bút lục 220), có nội dung: Ông C2, bà T1 xác nhận có mượn tiền của ông B1, bà D tiền để mua nền đất và xây nhà số B D và giao giấy tờ nhà đất cho ông B1, bà D. Ông C2, bà T1 cam kết không chuyển dịch quyền về tài sản, thế chấp căn nhà trên và sau này để lại thừa kế cho ông B1, bà D căn nhà trên. Tại di chúc ngày 09/10/2004 do ông C2 và T1 lập, được công chứng tại Phòng C3 tỉnh An Giang (bút lục 220), có nội dung: Ông C2, bà T1 để lại thừa kế căn nhà số B D2 cho ông B1, bà D.
[4] Xét các tài liệu trên, thấy rằng: Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 thể hiện việc bà T1, ông C2 mượn tiền của ông B1, bà D để mua đất, xây nhà, không có nội dung xác nhận việc đứng tên dùm nhà đất. Di chúc ngày 09/10/2004 của ông C2 và T1 chỉ là việc đảm bảo cho khoản vay tiền mua nhà đất trong trường hợp ông C2, bà T1 không có khả năng trả nợ cho ông B1, bà D.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cung cấp các tài liệu, gồm: Tờ thỏa thuận ngày 13/4/2015 giữa ông B1, ông C2 và bị đơn ông H1 (bút lục 212), có nội dung: Xác nhận Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 không còn giá trị, tài sản được cho theo di chúc giao cho ông C2 và ông H1; Giấy mua bán đất ngày 16/4/2015 (bút lục 211), có nội dung: Ông B1 bán căn nhà A cho ông H1, với giá 60.000USD và Biên nhận ngày 6/5/2015 (bút lục 312), có nội dung: Ông B1 nhận 25.000USD, ông H1 còn nợ 35.000USD; Đồng thời cho rằng: Do ông C2, bà T1 không có khả năng trả nợ cho ông B1, bà D nên sau khi bà D chết thì ông B1 đã chuyển nhượng nhà đất trên cho ông H1, với giá 60.000USD, ông B1 đã nhận 25.000USD nên bị đơn đồng ý thanh toán số tiền còn thiếu 25.000USD trên và lãi phát sinh.
[6] Xét các tài liệu do bị đơn cung cấp, thấy rằng: Các tài liệu trên thể hiện việc ông B1 đã chuyển nhượng và nhận tiền chuyển nhượng nhà đất của ông H1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét để xác định có hay không việc chuyển nhượng nhà đất như bị đơn trình bày. Trong khi đó, trong quá trình tố tụng, bị đơn xác định đã trả cho ông B1 25.000USD nên chỉ còn nợ 35.000USD và đồng ý trả số tiền 35.000USD và lãi chậm thanh toán.
[7] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ Giấy thừa nhận ngày 06/10/2004 và Tờ di chúc ngày 09/10/2004 để xác định ông B1, bà D đã nhờ ông C2 và T1 đứng tên dùm nhà đất là không không phù hợp với chứng cứ trong vụ án.
[8] Trường hợp, nếu có căn cứ xác định việc đứng tên dùm thì cũng phải tính công sức cho ông C2, bà T1. Việc bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại nhà đất mà không tính công sức cho đương sự là không đúng với Án lệ số 02/2016/AL công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
[9] Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không xác định được số tiền cụ thể mà bà D đã bỏ ra để mua đất, làm nhà. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ vấn đề này; Khi bị đơn cung cấp các tài liệu thể hiện ông B1 đã chuyển nhượng nhà, đất với giá 60.000USD và đã nhận 25.000USD thì Tòa án cấp sơ thẩm cũng không làm rõ có việc ông B1 chuyển nhượng và nhận tiền trên hay không? .....
[10] Những nội dung nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của ông H1, bà Á, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
[11] Nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Ánh .
- Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Chi phí tố tụng và tạm ứng án phí sơ thẩm do các đương sự nộp sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
- Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu và được trả lại như sau:
- Trả cho bà Phạm Thị Xuân H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000214 ngày 24/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Trả cho ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị Á, mỗi đương sự 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo các Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000196, 0000197 cùng ngày 13/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa | ||
| Phan Đức Phương |
Bản án số 780/2023/DS-PT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở vô hiệu”
- Số bản án: 780/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở vô hiệu”
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy toàn bộ bản án sơ thẩm
