TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thùy Đông; Bà Nguyễn Thị Bích Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 09/9/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/10. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn T1 và bà Phạm Thị K. Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ là Vũ Thị L. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/8/2014 bị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Ngày 13/8/2024 Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Tạ Quang K1, sinh năm 1952. Trú tại: Thôn C, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 27/6/2024 Phạm Văn T điều khiển xe mô tô BKS 30F8-7438 nhãn hiệu Wave màu đỏ, đi từ nhà đến khu vực thôn Đ, xã B, thành phố H để tìm mua Heroine với mục đích sử dụng. Khi T đang đứng ở khu vực ngã ba thuộc thôn Đ thì gặp một người đàn ông nhìn dáng vẻ giống người nghiện ma túy đi xe máy (T không nhớ đặc điểm và biển kiểm soát), T đến nói chuyện và biết người đàn ông này bán ma túy Heroine, T đưa cho người này 200.000 đồng, người này cầm tiền rồi bảo T đợi ở đây. Sau đó, người này đi đâu đó khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho T 01 gói giấy màu trắng có chữ, T tự xác định được bên trong gói giấy là ma túy Heroine nên T cầm và cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người đi tìm nơi sử dụng. Sau đó, T đi xe máy đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn C, xã B thấy vắng vẻ người qua lại, T đi vào trong nghĩa trang bỏ 01 ống Novocain, 01 xi lanh kim tiêm mà T đã mua từ hiệu thuốc trên đường N từ trước (T không nhớ địa chỉ nhà thuốc) và bỏ gói Heroine T2 vừa mua được ra, sau đó cho một nửa gói Heroine vào trong xi lanh kim tiêm, số Heroine còn lại T2 vẫn để trong giấy gói và gói lại để bên cạnh chỗ T2 đang ngồi. T2 pha chế Heroine trong xi lanh kim tiêm với nước N và tiêm dung dịch bên trong xi lanh vào ven mạch máu trên cánh ay phải. Sau khi tiêm xong T2 vẫn đang cầm xi lanh kim tiên trong lòng bàn tay trái thì bị Tổ công tác Công an thành phố H kiểm tra. T2 thành khẩn khai nhận vừa sử dụng Heroine. Công an thu giữ 01 xi lanh kim tiêm bên trong có dung dịch màu hồng. T2 tự giác giao nộp gói giấy màu trắng chưa sử dụng hết, mục đích cất giấu để sử dụng. Công an niêm phong vật chứng và đưa T2 về trụ sở làm việc.
Kết luận giám định số 496/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận: Tìm thấy dấu vết ma túy, loại Heroine trong 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng, niêm phong ký hệu M1. Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M2 có khối lượng là 0,142g là ma túy loại Heroine.
Về vật chứng thu giữ: 01 phong bì niêm phong ghi số 496/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh H, bên trong có 0,137g ma túy loại Heroine trong niêm phong ký hiệu M2; 01 xi lanh bơm kim tiêm đã qua sử dụng trong niêm phong ký hiệu M1; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 vỏ ống Novocain đã qua sử dụng.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 30F8-7438 là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị L (vợ T2), sinh năm 1973. Trú tại: Thôn P, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Ngày 27/6/2024 bà L cho T2 mượn xe để đi làm, T2 lấy xe đi đâu làm gì không nói với bà L. Ngày 13/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trả lại bà L xe mô tô trên. Bà L nhận xe, không có yêu cầu gì khác.
Quá trình điều tra, Phạm Văn T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với vật chứng thu giữ, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-TPHY ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 496/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,137g ma túy loại Heroine; 01 xi lanh bơm kim tiêm đã qua sử; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong; 01 vỏ ống Novocain đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 27/6/2024, tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn C, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,142 gam Heroine để sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an thành phố H bắt giữ quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thật thà, ăn năn hối cải. Bị cáo có mẹ đẻ được Ủy ban nhân dân tỉnh H tặng Bằng khen có thành tích tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trên địa bàn, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hạnh phúc gia đình của chính bị cáo. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 22/8/2014 bị cáo Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 13/8/2024 bị Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân nay lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trái phép. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 496/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,137 gam ma túy loại Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 mảnh giấy màu trắng; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định; để gói và đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 xi lanh bơm kim tiên; 01 vỏ ống Novocain, đều đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với người bán ma túy cho bị cáo T. Bị cáo không biết tên tuổi thật, địa chỉ cụ thể, lần đầu tiên mua ma túy không có ai chứng kiến sự việc. Do đó cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy là ai nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T. 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
[3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 496/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,137 gam ma túy loại Heroine; 01 xi lanh bơm kim tiêm; 01 mảnh giấy màu trắng; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 vỏ ống Novocain
(Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 63 ngày 09/9/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên).
[4] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Kim Anh |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T tàng trữ ma túy
