|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2024 V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Văn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Kiểm
- Ông Trần Văn Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án huyện T, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30/8/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 14/9/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Trần Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2021 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là tự nguyện, chị và anh H có được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, trong thời gian này vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh Hoàng Văn H.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Hoàng Minh K, sinh ngày 18/7/2022. Hiện con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn, chị xin con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho anh H, nhưng anh H không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên tòa hôm nay, anh H vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quy định về nghĩa vụ có mặt tại tòa theo quy định.
- Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn H.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi con chung là Hoàng Minh K, sinh ngày 18/7/2022.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn xin ly hôn và giải quyết về nuôi con chung. Bị đơn là anh Hoàng Văn H hiện cư trú tại tổ dân phố T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”; thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn: Chị Trần Thị N và anh Hoàng Văn H đăng ký kết hôn ngày 28/9/2021 tại UBND xã L, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Lời khai của chị N cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của chị N và anh H. Tòa án đã tống đạt cho bị đơn là anh Hoàng Văn H thông báo thụ lý vụ án, quyết định yêu cầu cấp chứng cứ với nội dung yêu cầu anh H trình bày ý kiến của mình về việc chị N xin ly hôn và xin nuôi con chung. Nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ để xác định vợ chồng chị N, anh H không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng là phải yêu thương, tôn trọng và chung sống cùng nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị N được ly hôn với anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xin nuôi con: Lời khai của chị N phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ xác định hiện cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 18/7/2022, do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung chưa đến 36 tháng tuổi và chị N có nguyện vọng xin được nuôi con chung. Nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cho chị N nuôi con chung là phù hợp với Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí, quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Trần Thị N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm đ, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn H.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi con chung là Hoàng Minh K, sinh ngày 18/7/2022. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị N.
- Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006980 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Trần Thị N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Văn Hiếu |
5
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quốc Sửu Trần Văn Thiện |
Thân Văn Hiếu |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
