Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 30-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Đầy

Ông Kim Diễn

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ý Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Tăng Văn T, sinh ngày 13/3/1991; tại Trà Vinh. Nơi cư trú ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Văn S, sinh năm 1967 và bà Thạch Thị T1, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ; tiền án: không có; tiền sự: có 01 tiền sự bị UBND huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt về hành vi “Hủy hoại tài sản của cá nhân” với số tiền 4.000.000 đồng theo Quyết định số 239/QĐ-XPHC ngày 12/01/2024 (chưa chấp hành và chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 35/2013/HSST ngày 25/9/2013; bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 14/2018/HSST ngày 22/3/2018; bị khởi tố vào ngày 17/7/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong vụ án khác do Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện D thụ lý cho đến nay, có mặt.

2. Thạch Tí, sinh ngày 29/10/1997; tại Trà Vinh. Nơi cư trú ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp:không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Đ, sinh năm 1975 và bà Thạch Thị L sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị khởi tố vào ngày 17/7/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam vào ngày 18/7/2024 cho đến nay, có mặt.

Bị hại:

- Bà Đào Thị N, sinh ngày 01/01/1968

- Ông Kim R, sinh ngày 01/01/1967

Nơi thường trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Kim R: Bà Đào Thị N, sinh ngày 01/01/1968, có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Kim Thị Tha Q, sinh ngày 27/10/1989. Nơi thường trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt

Người làm chứng:

- Ngô Văn T2, sinh ngày 08/02/2006. Nơi thường trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Thạch Nhi, sinh ngày 01/01/2000. Nơi thường trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Thạch Thiên L1, sinh ngày 27/8/2008. Nơi thường trú: ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho Thạch Thiên L1: Bà Thạch Thị L, sinh năm 1978. Nơi thường trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh (là mẹ ruột của Thạch Thiên L1), có mặt.

Người phiên dịch: Ông Thạch D, sinh năm 1957. Địa chỉ khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cáo trạng số 69/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Tăng Văn TThạch T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hành vi các bị cáo bị truy tố như sau:

Vào ngày 14/6/2024, bà Kim Thị Tha Q đến nhà mẹ ruột là bà Đào Thị N để gửi tiền cho bà N đóng tiền hụi giúp cho bà Q với tổng số tiền là 12.250.000 đồng (trong đó, có 24 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng). Sau khi nhận toàn bộ số tiền trên từ bà Q thì bà N lấy 01 sợi dây thun buộc lại tất cả các tờ tiền rồi cất vào 01 cái ruột của nồi cơm điện bằng kim loại. Sau đó, bà N cất ruột nồi cơm điện có nắp đậy bằng kim loại là nắp của nồi lẩu để đậy ngược lại vào một cái ngăn tủ của một cái tủ làm bằng gỗ được đặt tại khu vực nhà giữa nối liền giữa căn nhà trước và căn nhà sau. Trong một ngăn tủ khác là ngăn tủ phía trên ngăn tủ để ruột nồi cơm điện, bà N có để nhiều tờ tiền gồm hai mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng. Bà N dùng dây thun buộc lại mỗi mệnh giá thành một xấp riêng (trong hai xấp tiền nêu trên đều có lẫn vài tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng nhưng bà N không xác định được là bao nhiêu tờ), tổng cộng hai xấp tiền trên là 4.000.000 đồng.

Ngoài ra, còn có các thẻ cào điện thoại di động gồm 20 thẻ cào của mạng V1 (trong đó, 13 thẻ cào có giá trị 50.000 đồng và 07 thẻ cào giá trị 100.000 đồng, tổng cộng 1.350.000 đồng); 04 thẻ cào của mạng M, mỗi thẻ cào trị giá 50.000 đồng, tổng cộng 200.000 đồng; 02 thẻ cào của mạng V, mỗi thẻ cào trị giá 50.000 đồng, tổng cộng 100.000 đồng. Tổng số thẻ cào điện thoại trị giá là 1.650.000 đồng. Số tiền và thẻ cào bà N để sát vào ngăn tủ cạnh các quyển tập thường dùng cho học sinh. Tất cả các loại tài sản trên sau khi để vào hai ngăn tủ thì bà N có đóng cánh cửa tủ lại, nhưng không có khóa lại. Đến khoảng 05 giờ 25 phút ngày 21/6/2024, bà N thức dậy chuẩn bị nấu cơm để đi chùa thì phát hiện cánh cửa của ngăn tủ bị mở ra. Lúc này, bà N kiểm tra thì phát hiện toàn bộ số tiền và thẻ cào nêu trên bị mất trộm. Đến ngày 09/7/2024, bà N đã đến Công an xã K, huyện T để trình báo sự việc.

Xét thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền nên ngày 15/7/2024, Công an xã K đã chuyển nguồn tin báo tố giác về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để kiểm tra, xác minh theo thẩm quyền.

Qua quá trình điều tra đã chứng minh được các đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 20/6/2024, bị cáo Tăng Văn T đến nhà của bị cáo Thạch T3 để chơi. Thời điểm này có bạn của bị cáo T và bị cáo T3 là ông Ngô Văn T2 cũng có mặt tại nhà của bị cáo T3. Lúc này, bị cáo T có mượn xe mô tô của ông T2 để về nhà của bị cáo tại ấp G, xã Đ, huyện T. Đến khoảng 02 giờ ngày 21/6/2024, bị cáo T điều khiển xe mô tô đến nhà của bị cáo T3 để trả lại cho ông T2. Sau khi trả xe cho ông T2 xong, bị cáo T và bị cáo T3 cùng nhau đi xung quanh nhà của bị cáo T3. Lúc này, bị cáo T đã rủ bị cáo T3 đi trộm tài sản của người khác, cụ thể là quán tạp hóa tại nhà của bà N nêu trên, được bị cáo T rủ thì bị cáo T3 đồng ý.

Lúc này, cả hai cùng nhau đi bộ đến nhà của bà N cách nhà của bị cáo T3 khoảng 100m. Khi đến khu vực hàng rào tại nhà của bà N, bị cáo T đã leo rào vào bên trong và do sợ một mình sẽ bị phát hiện nên bị cáo T đã kêu bị cáo T3 leo rào vào để phụ giúp quan sát xung quanh và cảnh giới cho nhau. Lúc này, bị cáo T3 đã leo rào vào bên trong khu vực hàng rào cùng với bị cáo T. Khi vào được bên trong khu vực hàng rào, bị cáo T và bị cáo T3 cùng nhau đến vị trí bên ngoài cánh cửa của căn nhà sau của nhà bà N. Nhưng do sợ bị phát hiện nên bị cáo T3 quay lại khu vực hàng rào ngồi cạnh đó để quan sát xung quanh cảnh giới cho bị cáo T. Riêng bị cáo T thì dùng tay kéo mạnh cánh cửa sang bên phải (loại cánh cửa kéo ngang). Khi mở được cánh cửa, bị cáo T một mình đi vào bên trong căn nhà, bị cáo T lén lút đi đến khu vực của căn nhà trước tìm tài sản để trộm. Khi đi đến khu vực nhà giữa nối liền căn nhà trước và căn nhà sau, bị cáo T nhìn thấy một cái tủ bằng gỗ, có hai cánh cửa đóng lại.

Sau đó, bị cáo T đến phía trước cái tủ mở cánh cửa tủ ra thì thấy phía trong tủ có hai ngăn tủ. Ngăn tủ phía dưới có một vật dạng hình tròn và có một cái nắp dạng hình tròn đậy ngược lại phía trên (là ruột nồi cơm điện mà bà N đã cất số tiền 12.250.000 đồng nêu trên). Bị cáo T dùng tay phải lấy cái nắp ra để bên cạnh rồi kiểm tra bên trong thì phát hiện có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, mệnh giá 200.000 đồng và 50.000 đồng được buộc lại thành một xấp chung với nhau. Lúc này, bị cáo T lấy ra và cầm bên tay trái, tiếp tục bị cáo T sử dụng tay phải kiểm tra ngăn tủ phía trên để tìm tài sản trộm. Khi kiểm tra bị cáo T phát hiện các thẻ cào điện thoại di động với tổng trị giá 1.650.000 đồng cùng với 02 sắp tiền tổng cộng 4.000.000 đồng mà bà N đã cất trước đó. Lúc này, bị cáo T lấy trộm tất cả các tài sản trên nhưng do tiền nhiều nên bị cáo T cầm tất cả tài sản trộm được bằng hai tay rồi quay ra đường cửa nhà sau như lúc ban đầu.

Riêng bị cáo T3 đã leo rào ra trước và ngồi gần đó để đợi bị cáo T. Khi đi đến hàng rào bên hông cạnh biển báo giao thông gần đường nhựa. Thời điểm này bị cáo T đã chuyển tất cả số tiền và thẻ cào điện thoại trộm được sang tay trái để cầm, rồi dùng tay phải nắm lấy hàng rào để leo ra phía bên ngoài. Tuy nhiên, do sử dụng một tay để leo rào nên khi bị cáo T leo ra được phía bên ngoài thì toàn bộ số tiền bị đứt dây thun rơi xuống đất, do trời gần sáng và sợ bị phát hiện nên bị cáo T nhanh chóng nhặt một phần số tiền đã trộm lên và cất vào bên trong túi áo khoác đang mặc, phần tiền còn lại bị cáo T không có thời gian nhặt lên nên đã bỏ lại hiện trường. Sau khi gặp bị cáo T3 thì bị cáo T đưa hai tay vào túi áo khoác và dùng tay bóp các tờ tiền để phát ra âm thanh và nói cho bị cáo T3 biết là đã trộm được tiền.

Sau đó, cả hai cùng nhau đi về nhà của bị cáo T3. Khi đến nhà của bị cáo T3 thì bị cáo T gặp ông Thạch N1 và ông T2 tại đó. Lúc này, bị cáo T đã cho ông N1 02 thẻ cào điện thoại của mạng V1, mỗi thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng. Sau đó, bị cáo T mượn xe mô tô của ông T2 để bị cáo về nhà của bị cáo. Lúc này, ông T2 đồng ý và đưa chìa khóa xe cho bị cáo T, bị can T chở bị cáo T3 ngồi phía sau. Khi về đến nhà thì bị cáo T đem tất cả số tiền và thẻ cào trộm được để trên 01 cái giường được đặt tại căn nhà trước. Sau đó, bị cáo T3 ngồi đếm, do đếm chậm nên bị cáo T nói với bị cáo T3 “Mày đếm lâu quá, nghỉ đếm đi”. Đồng thời, bị cáo T đã lấy một xấp tiền trong số tiền trộm được đưa cho bị cáo T3 gồm những tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, bị cáo T3 đã đếm được số tiền là 1.300.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo T còn đưa cho bị cáo T3 04 thẻ nạp điện thoại mạng Viettel, môi thẻ trị giá 50.000 đồng và 03 thẻ nạp V1 trị giá mỗi thẻ 20.000 đồng. Sau khi nhận lấy thẻ nạp điện thoại di động, bị cáo T3 đã đổi lại 20 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng mà bị cáo T đã chia cho trước đó để nhận lại từ bị cáo T 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.

Sau đó, bị cáo T3 điều khiển xe mô tô về nhà để trả lại cho ông T2. Riêng bị cáo T ở nhà của mình kiểm tra lại và phát hiện bên trong túi áo khoác còn 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Lúc này, bị cáo T đếm số tiền đã trộm còn lại là 6.700.000 đồng, 04 thẻ cào mỗi thẻ 100.000 đồng của mạng V1 và 02 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng của mạng V1. Tổng tài sản bị cáo T cất giữ sau khi trộm là 7.200.000 đồng.

Riêng đối với bị cáo T3, sau khi về nhà của mình do biết được điện thoại di động của em bị cáo là ông Thạch N1 và ông Thạch Thiên L1 đã bị hư hỏng nên bị cáo T3 đã lấy số tiền 1.000.000 đồng trong số tiền mà bị cáo T chia cho bị cáo đưa cho N1 để N1L1 đi sửa điện thoại di động. Sau khi nhận số tiền trên từ bị cáo T3, ông N1 đã đưa lại cho ông L1 650.000 đồng để đi trả tiền sửa điện thoại di động, còn lại 350.000 đồng ông N1 cất giữ. Sau đó, ông L1 đã đưa lại cho ông T2 cất giữ số tiền 650.000 đồng để chở ông L1 đi trả tiền sửa điện thoại di động trước đó. Tuy nhiên do cửa hàng sửa điện thoại đóng cửa nên cả hai không lấy được điện thoại. Lúc này, ông T2 đã sử dụng số tiền trên mua cơm và nước uống với số tiền 130.000 đồng, còn lại 520.000 đồng ông T2 cất giữ và đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Sau đó, tất cả bị Cơ quan điều tra mời làm việc, bị cáo T và bị cáo T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định tạm giữ đối với số tiền 520.000 đồng từ ông T2 giao nộp. Đến ngày 29/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả số tiền trên cho chủ sở hữu là bà Đào Thị N nhận lại để quản lý theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận việc trộm cắp tài sản đúng như cáo trạng đã mô tả và truy tố.

Bị hại bà Đào Thị N yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền và thẻ cào bị mất trộm còn lại là 17.380.000 đồng; về trách nhiệm hình sự bà N yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Kim Thị Tha Q không có yêu cầu gì.

Các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nhưng hiện tại chưa có tiền để bồi thường.

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị với Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử lý cụ thể như sau:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tăng Văn T từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thạch T3 từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp tính từ ngày 18/7/2024.

Về dân sự: bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường 17.380.000 đồng, các bị cáo thống nhất bồi thường cho bị hại (trong đó bị cáo T bồi thường 15.820.000 đồng, bị cáo T3 bồi thường 1.560.000 đồng), đây là sự tự nguyện giữa các bị cáo và bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 588, 589 Bộ luật dân sự để ghi nhận.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định.

Các bị cáo Thạch T4Thạch T3 không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào khoảng 02 giờ 35 phút ngày 21/6/2024, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo Tăng Văn T và bị cáo Thạch T3 đã có hành vi lén lút lấy trộm tiền và thẻ cào điện thoại di động của bà Đào Thị N tại ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh với tổng giá trị tài sản là 17.900.000 đồng (mười bảy triệu chín trăm nghìn đồng).

Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định các bị cáo Tăng Văn TThạch T3 đã có hành vi lén lút lấy trộm tiền và thẻ cào điện thoại di động của bà Đào Thị N tại ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh với tổng giá trị tài sản là 17.900.000 đồng (mười bảy triệu chín trăm nghìn đồng) là sự việc có thật.

[2] Về chủ thể thực hiện tội phạm: các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Về khách thể của tội phạm: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật dân sự bảo vệ. Mặt khách quan của tội phạm: các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Mặt chủ quan của tội phạm: các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý; mục đích phạm tội của bị cáo là nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại.

[3] Tội phạm các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, các bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm, xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội còn bị cáo T3 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo T.

Xét thấy bị cáo T là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” mặc dù đã được xóa án tích nhưng sau khi được cải tạo giáo dục bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội là thể hiện bị cáo có ý thức xem thường sự nghiêm minh của pháp luật, không biết sửa chữa sai lầm của mình nên hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý công minh, đúng theo pháp luật. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với bị cáo T3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T3 quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về trách nhiệm dân sự: xét thấy bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường 17.380.000 đồng, các bị cáo thống nhất bồ thường cho bị hại (trong đó bị cáo T 15.820.000 đồng, bị cáo T3 1.560.000 đồng), đây là sự tự nguyện giữa các bị cáo và bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát Điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Xét quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định như trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: các bị cáo Tăng văn T5Thạch T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Tăng Văn T 01(một) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Thạch T3 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp tính từ ngày 18/7/2024.

Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 588, 589 Bộ luật dân sự, ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo bồi thường cho bị hại 17.380.000 đồng (trong đó bị cáo T bồi thường 15.820.000 đồng, bị cáo T3 bồi thường 1.560.000 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí hình sự: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Về án phí dân sự: Buộc bị cáo Tăng văn T5 phải chịu 791.000 đồng; bị cáo Thạch T3 phải chịu 78.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Duyên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Đầy

Kim Diễn

Lê Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Thạch T và bị cáo tăng văn T bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger