Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-7-2024

V/v tranh chấp: “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Bảo Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Hằng.

2. Ông Trần Văn Nhị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2024/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1/Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc C, sinh năm 1975 (xin vắng)

Địa chỉ: Cấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

2/Bị đơn: Ông Võ Bá H, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: Cấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông H tự nguyện tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/02/1994. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, ông H thường xuyên uống rượu say rồi mắng chửi vợ con cũng như người bên ngoài. Bà cũng có góp ý nhiều lần nhưng ông H không thay đổi. Trong công việc làm ăn mua bán vợ chồng cũng không có tiếng nói chung, ông H không có gánh vác phụ bà, không có trách nhiệm với gia đình, nếu làm thành công thì do vợ chồng còn thất bại thì là lỗi của bà. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc nhưng vì con nên bà vẫn duy trì cuộc hôn nhân. Những năm gần đây bà biết ông H có người phụ nữ khác bên ngoài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Thị Mộng T sinh ngày 22/10/1994 và Võ Thu G sinh ngày 10/8/2002, đều trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Võ Bá H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có bản tự khai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục tống đạt niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông H biết Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của bà C nhưng ông H không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc bà C xin ly hôn.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng ông H chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của ông theo thủ tục tố tụng, tuy nhiên việc xét xử vắng mặt ông H không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, ông H không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng không có ý kiến là không quan tâm việc bà C xin ky hôn. Xét mâu thuẫn trầm trọng, nên bà C yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: có 02 con chung tên Võ Thi Mông T sinh ngày 22/10/1994 và Võ Thu G sinh ngày 10/8/2002, đều trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung, bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Bà Võ Thị Ngọc C và ông Võ Bá H kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/02/2008. Nay bà C khởi kiện làm phát sinh quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điêu 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Do ông Võ Bá H hiện cư ngụ tại huyện T, tỉnh Long An nên khi bà C có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An giải quyết theo trình tự sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do vắng mặt đương sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

[4] Tại phiên toà, ông Võ Bá H là bị đơn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho ông H Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng ông H vẫn không đến tham gia phiên tòa. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đưa ra xét xử vắng mặt ông Võ Bá H là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Tại phiên tòa hôm nay, bà Võ Thị Ngọc C có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu của bà C, Hội đồng xét xử thấy:

[5.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Ngọc C và ông Võ Bá H có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ khi có tranh chấp.

[5.2] Xét thấy, bà Võ Thị Ngọc C và ông Võ Bá H kết hôn đã lâu, ban đầu hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo bà C trình bày là ông H thường xuyên uống rượu say rồi mắng chửi vợ con. Trong công việc làm ăn mua bán vợ chồng cũng không có tiếng nói chung, ông H không có gánh vác phụ bà, không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc nhưng vì con nên bà vẫn duy trì cuộc hôn nhân. Những năm gần đây bà biết ông H có người phụ nữ khác bên ngoài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông H. Tuy ông H vắng mặt tại phiên toà và suốt quá trình tố tụng, không xác định nguyên nhân mâu thuẫn nhưng theo kết quả xác minh của Công an xã B, huyện T, tỉnh Long An thì ông Võ Bá H có thường trú tại địa chỉ: ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho ông H các văn bản tô tụng của Tòa án theo quy định pháp luật như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng ông H không đến Tòa án tham gia tố tụng, không tham gia phiên hoà giải và phiên toà để giải quyết vụ án, không có ý kiến hay yêu cầu gì thể hiện việc ông H không thiết tha hàn gắn tình cảm với bà C, không quan tâm yêu cầu xin ly hôn của bà C, vợ chồng chung sống nhưng không yêu thương quan tâm lẫn nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ tình cảm giữa bà C và ông H không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C đối với ông H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5.3] Về con chung: có 02 con chung tên Võ Thị Mộng T sinh ngày 22/10/1994 và Võ Thu G sinh ngày 10/8/2002, đều trưởng thành.

[5.4] Về tài sản chung và nợ chung: bà Võ Thị Ngọc C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An là có cơ sở.

[7] Về án phí: bà Võ Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205; Các điều 147, 227, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc C.

Về hôn nhân: Cho Võ Thị Ngọc C được ly hôn với ông Võ Bá H.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Thị Mộng T sinh ngày 22/10/1994 và Võ Thu G sinh ngày 10/8/2002, đều trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Võ Thị Ngọc C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: bà Võ Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp theo biên lai thu số 0008398 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Bà C không phải nộp thêm.

Án xét xử sơ thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - UBND xã B;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hồ Bảo Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CAM LH HOANG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger