|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày: 30-5-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên
Ông Lý Quang Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST – HS ngày 10/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu T (tên gọi khác: Không có); Giới tính: N, sinh năm 1987 tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Hữu T1, sinh năm: 1962 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1962; Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1987; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015; con nhỏ sinh năm 2018; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/10/2023 tại Trạm tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại: Anh Ma A S, sinh năm: 1983 và Anh G, sinh năm: 1980. Cùng địa chỉ: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. (có đơn xét xử vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Giàng A K, sinh năm: 1982 và anh Giàng A K1, sinh năm 1987. Đều cùng địa chỉ: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu.
- Anh Ma A G, sinh năm: 1998 và anh Giàng A L1, sinh năm 1987. Đều cùng địa chỉ: Bản D, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu.
- Chị Trần Thị M, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu.
(Người làm chứng đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ, ngày 07/6/2023, Ma A S- sinh năm 1983, Giàng A K - sinh năm 1982, Giàng A L1 - sinh năm 1980 (gọi là Giàng A Là 1), Giàng A K1 - sinh năm 1987, cùng trú tại bản Dền Thàng B, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu và Giàng A L1 - sinh năm 1987 (Giàng A L1 2), trú tại bản Dền Thàng A, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu cùng nhau ăn cơm uống rượu say tại nhà Ma A G - sinh năm 1998, trú tại bản Dền Thàng A, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống tại nhà Ma A G xong, tất cả rủ nhau đến quán Cô D của vợ chồng Trần Hữu T và chị Trần Thị M cùng sinh năm 1987, trú tại bản Hợp 2, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu để ăn phở, trong lúc đợi Trần Hữu T làm đồ ăn, do không có thuốc lào để hút nên Giàng A K ném chiếc điếu cày trong quán của T ra trước cửa quán, T nhắc nhở Khai lần sau không được làm thế, nên giữa T và K xảy ra đôi co, cãi vã nhau. Sau đó, những người cùng đi với Khai đứng ở vỉa hè trước cửa quán T cũng hùa vào cãi chửi nhau với T (chủ quán). Trong lúc hai bên đang cãi chửi nhau, thì Ma A S dùng tay phải tát về T nhưng không trúng mặt mà trượt qua vai của T. Bị S đánh, T liền dùng tay phải tát 01 nhát trúng vào mặt Ma A S, khiến S ngã xuống đất. Khi T tiếp tục dùng tay đánh về phía Ma A S, thì bị Giàng A K, Giàng A K1, Ma A G và Giàng A L1 1 lao đến dùng tay, chân đấm đá Thường. Lúc này, chị Trần Thị M và Giàng A L1 2 cùng can ngăn nhưng không được. Khi thấy các đối tượng dồn đánh chồng thì chị Trần Thị M vợ của T đã dùng ấm nước bằng sứ ném về phía những người đang đánh T thì ném trúng ngay Giàng A K1, làm Ky bị thương chảy máu, các đối tượng Giàng A Là 1, Ma A S, Ma A G, Giàng A K1 vẫn tiếp tục dồn đánh T vào khu vực bếp nấu ăn trong quán, ngay lúc đó T đã cầm được một con dao bầu dài 31,3 cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắc trên mặt bàn bếp, T cầm bằng tay phải khua, chém loạn xạ về phía nhóm Ma A S để chống đỡ. Bị T cầm dao chống trả, Giàng A K1 và Giàng A K chạy ra ngoài khỏi khu vực bếp, còn Giàng A L1 1 vẫn đứng trong khu vực nấu ăn, Ma A S đứng cạnh bàn nấu ăn phía bên ngoài. Do bị S và Giàng A L1 1 vẫn tiếp tục mắng chửi, nên T dùng dao khua, chém S và Giàng A L1 1. Khi bị Giàng A L1 1 dùng tay phải ném 01 cái bát về phía Thường rồi xoay người chạy ra ngoài, thì bị T cầm dao đâm với theo trúng vào vùng mạn sườn bên trái của Giàng A L1 1. Sau đó T quay sang đâm 01 nhát về phía Ma A S thì trúng vào vùng bụng sườn bên trái của S, sau đó Ma A S, Giàng A L1 1, Giàng A K1 được mọi đưa đi cấp cứu. Trong lúc Công an xã D đến thu giữ con dao T đã dùng gây thương tích cho Ma A S và Giàng A L1 1, thì Trần Hữu T tự đến Công an huyện P trình báo sự việc.
Kết luận giám định ADN số 419/23/KLGDADN-PYQG ngày 27/7/2023 của V kết luận: ADN thu từ con dao của Trần Hữu T dùng gây thương tích cho người khác gửi giám định trùng khớp hoàn toàn với ADN của Ma A S trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Tại bệnh án ngoại khoa, số hồ sơ 20305534 của Bệnh viên đa khoa tỉnh Lai Châu đối với bệnh nhân Giàng A L1 (sinh năm 1980), xác định: Vết thương hở vùng thái dương đỉnh kích thước 8 x 1 cm; Vết thương thành bụng trái kích thước 8 x1,5cm; Vết thương cẳng tay trái kích thước 1x0,5cm; Vết thương cổ tay trái kích thước 1,5x2,5cm bờ sắc gọn, rỉ máu, vết thương thành bụng phải kích thước 3x1cm.
Tại bệnh án ngoại khoa, số hồ sơ 20305535 của Bệnh viện đa khoa tỉnh L đối với bệnh nhân Ma A S, xác định: Vết thương vùng lưng bên trái kích thước 4 x 1,5cm, rỉ máu (thấu ngực, thấu bụng); 02 vết thương vùng cẳng tay trái kích thước 4x1xm và 6x1cm, rỉ máu, Vết thương mu tay trái kích thước 4x0,5cm, rỉ máu.
Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYTngày 28-8-2019 của Bộ trưởng Bộ V quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần và bản các bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 115 ngày 24/7/2023 đối với Giàng A L1 và số: 114 ngày 20/7/2023 đối với Ma A S của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Giàng A L1 do thương tích gây nên hiện tại là 31% và tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ma A S do thương tích gây nên hiện tại là 43%. Tại thời điểm giám định. Theo nguyên tắc cộng lùi tại Thông tư.
Cáo trạng số 35/CT- VKSLC – P1, ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố Trần Hữu T về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo. Kiểm sát viên đánh giá đối với bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại nhằm khắc phục hậu quả, các bị hại cũng có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại giai đoạn điều tra; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của các bị hại gây ra. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Hữu T không có tình tiết tăng nặng. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm s, b, e khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hữu T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023. Về phần dân sự: Trước khi xét xử người bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận xong mức bồi thường và các bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét. Về vật chứng vụ án, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 hộp cát tông được dán kín bằng 02 mảnh giấy niêm phong màu trắng, trên 02 mảnh giấy niêm phong đều có chữ ký ghi rõ họ tên của Đinh Thị L2, Trần Văn T2 và đều có 02 hình dấu tròn đỏ của Viện pháp y V, một mặt của hộp cát - tông có ghi dòng chữ V419D-23, bên trong có một con
dao (dạng dao bầu) dài 31,3 cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắc; 01 phong bì màu trắng được dán kín các mép, trên mép dán của phong bì được dán 01 mảnh giấy niêm phong màu trắng, trên mảnh giấy niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của: Nguyễn Văn T3, Đặng Văn H, Đào Quang T4, Trần Thị M, một mặt của phong bì được ghi “Mẫu vật gửi giám định vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 07/6/2023” bên trong phong bì có chứa 07 gói giấy ký hiệu từ A1,A2,A3,A4,A5,A6,A7 bên trong mỗi gói giấy đều chứa 01 miếng gạc được thẩm chất màu đỏ thu thập khi khám nghiệm hiện trường; 01 chiếc điếu cày bằng tre, có chiều dài 68cm, đường kính miệng điếu 5,8 cm, chiếc điếu thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường tại quán ăn của Trần Hữu T - SN: 1987; 01 chiếc ấm bằng sứ màu trắng xanh (loại ấm tích) có quai cầm bằng kim loại, bị vỡ thành nhiều mảnh do quá trình xô sát đánh nhau; 01 ấm siêu tốc bằng điện, các bộ phận tay cầm, nắp ấm, đế ấm đã bị vỡ, tách rời do quá trình xô sát đánh nhau; 01 bát sứ nhỏ màu trắng đã bị vỡ; 02 lọ nhựa hình trụ, bị mất nắp bên trong đều chứa các chất màu nâu đỏ; 01 bàn nhựa, loại bàn ăn có mặt bàn bằng nhựa kích thước mặt bàn 1,28 x 6,5m, chân bàn bằng kim loại có thể gập gọn, một bên chân bàn đã bị gãy gập phần gần khớp nối của chân bàn; 01 gáo múc nước phở bằng kim loại bị gãy chia thành hai phần cán và muỗng múc; 01 ống đựng thìa đũa bằng nhựa màu xanh, dưới đế của ống đựng có các ký tự chữ nước ngoài.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Hữu T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với các bị hại Giàng A L1 và Giang A cũng như những người làm chứng đã được Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ, tuy nhiên các bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, cho nên các bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không ý kiến gì khác. Còn những người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng tại phiên tòa bị cáo không ý kiến gì về sự vắng mặt của những người làm chứng, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến, mặc dù những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của họ đã thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ án, cho nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến quá trình xét
xử tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử bình thường và công khai lời khai của những người làm chứng tại cơ quan điều tra nếu xét thấy có sự mâu thuẫn với các lời khai khác tại phiên tòa, và nhất trí đơn xin xét xử vắng mặt của các bị hại.
[2] Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, những người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ, ngày 07/6/2023, tại quán Cô D của gia đình Trần Hữu T, thuộc bản Hợp 2, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, do xảy ra mâu thuẫn nên đã dẫn đến xô sát giữa 05 người gồm: Ma A S, G, Giàng A K1, Giàng A K và Ma A G với Trần Hữu T. Quá trình bị dồn đánh vào góc bếp trong quán, Trần Hữu T đã lấy dao bầu dài 31,3 cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắc khua, chém, đâm trúng nhiều nhát vào cơ thể Giàng A L1 1 và Ma A S. Hậu quả: Giàng A Là 1 bị tỷ lệ thương tích 31%; Ma A S bị tỷ lệ thương tích 43%.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Trần Hữu T là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật. Xuất phát từ hành động sai trái rất nhỏ của các bị hại khi say rượu muốn hút thuốc lào nhưng thuốc lào trong quán hết chỉ còn điếu nên đã ném chiếc điếu cày của bị cáo từ trong quán ra cửa, bị cáo là chủ quán, các bị hại đều là khách hàng, đáng lẽ ra bị cáo phải nói năng hòa nhã, nhẹ nhàng và không nên chấp người đã uống rượu không làm chủ được lời nói và hành vi của mình, nếu bị cáo không muốn bán hàng cho các bị hại thì có thể trả lời khách sao cho hài hòa, dễ nghe, nhưng bị cáo lại nóng giận, thiếu kìm chế cộng với bản chất hung hang, cục xúc, cũng thích dùng bạo lực để giải quyết mọi xung đột, mâu thuẫn xảy ra và thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã có hành vi như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng các loại hung khí là con dao bầu để đánh nhau là sẽ gây thương tích có thể làm nguy hiểm đến tính mạng của người khác và là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo Trần Hữu T5 vẫn cố tình thực hiện và đã gây thương tích cho 2 người mà trong đó tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh S do bị cáo gây ra là 43%, anh L1 1 là 31% nhưng lại thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm là con dao bầu theo quy định tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung tại điểm đ, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành. Các chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của đại diện Viện kiểm sát, kết luận bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự. Như vậy hành vi của bị cáo T sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích đối với sức khỏe của nhiều người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự chung, gây bất
bình trong dư luận quần chúng nên cần có mức hình phạt thật tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho các bị hại cụ thể bị cáo đã bồi thường cho các bị hại là anh Ma A S số tiền 65.000.000 đồng và anh Giàng A L1 số tiền 65.000.000 đồng, các bị hại cũng đã có đơn đề nghị không truy cứu hình sự đối với bị cáo tại giai đoạn điều tra và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của các bị hại trong vụ án gây ra. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an huyện P trình báo sự việc. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b, e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và trước khi xét xử bị cáo và các bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, thống nhất mức bồi thường thiệt hại, theo đó bị hại S và Là 1 đã nhận đủ của bị cáo mỗi người 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng), 2 người tổng là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) và đến giai đoạn xét xử các bị hại cũng không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về vật chứng vụ án: 01 hộp cát tông được dán kín bằng 02 mảnh giấy niêm phong màu trắng, trên 02 mảnh giấy niêm phong đều có chữ ký ghi rõ họ tên của Đinh Thị L2, Trần Văn T2 và đều có 02 hình dấu tròn đỏ của Viện pháp y V, một mặt của hộp cát - tông có ghi dòng chữ V419D-23, bên trong có một con dao (dạng dao bầu) dài 31,3 cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắc; 01phong bì màu trắng được dán kín các mép, trên mép dán của phong bì được dán 01 mảnh giấy niêm phong màu trắng, trên mảnh giấy niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của: Nguyễn Văn T3, Đặng Văn H, Đào Quang T4, Trần Thị M, một mặt của phong bì được ghi “Mẫu vật gửi giám định vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 07/6/2023” bên trong phong bì có chứa 07 gói giấy ký hiệu từ A1,A2,A3,A4,A5,A6,A7 bên trong mỗi gói giấy đều chứa 01 miếng gạc được thẩm chất màu đỏ thu thập khi khám nghiệm hiện trường; 01 chiếc điếu cày bằng tre, có chiều dài 68cm, đường kính miệng điếu 5,8 cm, chiếc điếu thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường tại quán ăn của Trần Hữu T - SN: 1987; 01 chiếc ấm bằng sứ màu trắng xanh (loại ấm tích) có quai cầm bằng kim loại, bị vỡ thành nhiều mảnh do quá trình xô sát đánh nhau; 01 ấm siêu tốc bằng điện, các bộ phận tay cầm, nắp ấm, đế ấm đã bị vỡ, tách rời do quá trình xô sát đánh nhau; 01 bát sứ nhỏ màu trắng đã bị vỡ; 02 lọ nhựa hình trụ, bị mất nắp bên trong đều chứa
các chất màu nâu đỏ; 01 bàn nhựa, loại bàn ăn có mặt bàn bằng nhựa kích thước mặt bàn 1,28 x 6,5m, chân bàn bằng kim loại có thể gập gọn, một bên chân bàn đã bị gãy gập phần gần khớp nối của chân bàn; 01 gáo múc nước phở bằng kim loại bị gãy chia thành hai phần cán và muỗng múc; 01 ống đựng thìa đũa bằng nhựa màu xanh, dưới đế của ống đựng có các ký tự chữ nước ngoài. Xét đây là những vật chứng của vụ án không còn trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Những nội dung khác trong vụ án:
- Việc Trần Hữu T bị Ma A S, G, Giàng A K1, Giàng A K, Ma A G dùng chân tay đánh vào các vùng trên cơ thể, do thương tích của T là 0% (Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 122 ngày 02/8/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y) nên việc Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với các đối tượng trên về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng luật định.
- Đối hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng của Ma A S, Giàng A L1 1, Giàng A K1, Giàng A K, Ma A G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tách ra để xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
- Quá trình điều tra xác định: Khi xảy ra xô sát, chị Trần Thị M can ngăn, kéo Giàng A K1 ra ngoài thì bị Giàng A K1 đấm 01 nhát vào mặt Trần Thị M. Sau đó, Trần Thị M cầm ấm uống nước bằng sứ ném về phía nhóm Ma A S thì trúng Giàng A K1. Việc chị Trần Thị M đã dùng ấm nước bằng sứ gây thương tích cho Giàng A K1 với tỷ lệ thương tích là 6% (Kết luận giám định số 117, ngày 20/7/2023 của Trung tâm Y). Ngày 01/9/2023, Trần Thị M đã bồi thường cho Giàng A K1 số tiền 6.000.000 đồng, Giàng A K1 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị M. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không xem xét xử lý Trần Thị M về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.
- Việc anh Giàng A K1 đấm 01 nhát vào mặt chị Trần Thị M, do không bị thương tích, nên Trần Thị M đã có đơn từ chối giám định thương tích và không đề nghị cơ quan điều tra xử lý.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trần Hữu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm s, b, e khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều
106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội "Cố ý gây thương tích".
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp cát tông được dán kín bằng 02 mảnh giấy niêm phong màu trắng, trên 02 mảnh giấy niêm phong đều có chữ ký ghi rõ họ tên của Đinh Thị L2, Trần Văn T2 và đều có 02 hình dấu tròn đỏ của Viện pháp y V, một mặt của hộp cát - tông có ghi dòng chữ V419D-23, bên trong có một con dao (dạng dao bầu) dài 31,3 cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, một lưỡi sắc; 01phong bì màu trắng được dán kín các mép, trên mép dán của phong bì được dán 01 mảnh giấy niêm phong màu trắng, trên mảnh giấy niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của: Nguyễn Văn T3, Đặng Văn H, Đào Quang T4, Trần Thị M, một mặt của phong bì được ghi “Mẫu vật gửi giám định vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 07/6/2023” bên trong phong bì có chứa 07 gói giấy ký hiệu từ A1,A2,A3,A4,A5,A6,A7 bên trong mỗi gói giấy đều chứa 01 miếng gạc được thẩm chất màu đỏ thu thập khi khám nghiệm hiện trường; 01 chiếc điếu cày bằng tre, có chiều dài 68cm, đường kính miệng điếu 5,8 cm, chiếc điếu thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường tại quán ăn của Trần Hữu T - SN: 1987; 01 chiếc ấm bằng sứ màu trắng xanh (loại ấm tích) có quai cầm bằng kim loại, bị vỡ thành nhiều mảnh do quá trình xô sát đánh nhau; 01 ấm siêu tốc bằng điện, các bộ phận tay cầm, nắp ấm, đế ấm đã bị vỡ, tách rời do quá trình xô sát đánh nhau; 01 bát sứ nhỏ màu trắng đã bị vỡ; 02 lọ nhựa hình trụ, bị mất nắp bên trong đều chứa các chất màu nâu đỏ; 01 bàn nhựa, loại bàn ăn có mặt bàn bằng nhựa kích thước mặt bàn 1,28 x 6,5m, chân bàn bằng kim loại có thể gập gọn, một bên chân bàn đã bị gãy gập phần gần khớp nối của chân bàn; 01 gáo múc nước phở bằng kim loại bị gãy chia thành hai phần cán và muỗng múc; 01 ống đựng thìa đũa bằng nhựa màu xanh, dưới đế của ống đựng có các ký tự chữ nước ngoài.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
[4] Về án phí: Bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sở thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
