|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2023/DS-PT Ngày 29 tháng 11 năm 2023 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Việt Giang;
Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2023/DS-ST ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 69/2023/QĐ-PT ngày 27/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 01/2023/QĐ-PT ngày 16/11/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Tổng Công ty G
Địa chỉ: B, phố L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Quốc L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Khổng Hồng Q – Chức vụ: Phó Giám đốc Công ty L3 và ông Nguyễn Khắc L1 – Chức vụ: Chuyên viên pháp chế - Tổng công ty G.
Bị đơn: Anh Phùng Văn N, sinh năm 1982
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Văn H, sinh năm 1956
Đều có địa chỉ: Khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Văn H, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1956
Đều có địa chỉ: Khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H: Bà Đinh Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
Người kháng cáo: Ông Phùng Văn H.
(Ông Q, ông L1, ông H có mặt; Anh N vắng mặt; Bà B, ông D, bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2022, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
1.1. Về nguồn gốc và quyền sử dụng đất:
Tổng công ty G là doanh nghiệp có vốn Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 256/TTg ngày 29/04/1995 của Thủ tướng Chính phủ theo mô hình tổng công ty N2. Công ty L3 được thành lập trên cơ sở sáp nhập từ Lâm trường T, Lâm trường Kiệt Sơn và Lâm trường T1 vào năm 1999.
Ngày 31/3/1998, UBND tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) ban hành Quyết định số 604/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lâm trường Thu C thuộc Công ty N3 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lâm Trường Thu C1 (nay là Công ty L3 sau đây viết tắt là Công ty L3) diện tích 3.483,0ha tại xã T, huyện T (nay là huyện T).
Ngày 19/12/2011, UBND tỉnh P ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND v/v thu hồi một phần diện tích đất của Công ty L3 – Tổng công ty G trên địa bàn huyện T. Cụ thể, tại quyết định đã thu hồi và giao cho UBND xã T quản lý diện tích đất là 32.620.279,7m² tại địa bàn xã T.
1.2. Về quá trình sử dụng đất và tranh chấp phát sinh:
Kể từ thời điểm được giao đất đến năm 2020, Công ty L3 tự trồng rừng và giao cho đội sản xuất cùng hợp tác, giao khoán với nhân dân ở địa phương trồng và chăm sóc theo kế hoạch của Công ty. Cụ thể, từ năm 2005-2012, Công ty L3 tự trồng rừng tập trung.
Ngày 21/8/2013, do hộ ông H có đơn đề nghị nên UBND huyện T; UBND xã T đã tổ chức buổi làm việc: Kết quả, hộ ông H đã đồng ý xác định đất lâm nghiệp tại khe S - Đèo Cón thuộc khu N, xã T thuộc quyền sử dụng của Công ty L3 và đồng ý liên doanh trồng cây với Công ty L3.
Từ năm 2014 – 2021, Công ty L3 đã ký kết Hợp đồng giao nhận khoán đất trồng rừng với anh Phùng Văn N (là con trai của ông Phùng Văn H, thuộc hộ ông H).
Từ đầu năm 2021 (sau khi Công ty L3 thu hoạch cây theo hợp đồng giao khoán) cho đến nay, anh N đã trồng cây Bồ đề, K, Trẩu vào khoảng 1,5ha đất lâm nghiệp tại lô N1, khoảnh 46 (theo Bản đồ thiết kế trồng rừng) ở khu vực S - Đèo Cón thuộc khu N, xã T của Công ty L3.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đã xác định diện tích đất lâm nghiệp hộ anh N đang sử dụng của Công ty L3 được giao có diện tích là 17.324,2m². Diện tích đất khác nhau giữa yêu cầu khởi kiện với thực tế sử dụng đất của hộ anh N khi xem xét, thẩm định tại chỗ là vì: Diện tích 1,5ha là số đo của thiết kế khi Công ty L3 trồng rừng, và thuộc lô N1, khoảnh 46 của Bản đồ thiết kế trồng rừng của Công ty L3. Phần diện tích đất thừa ra, là đất hành lang ven Suối và đất dốc (Công ty L3 không thiết kế trồng rừng). Nay, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu hộ anh N trả lại toàn bộ 17.324,2m² đất hiện nay đang sử dụng cho Công ty L3.
Khi anh N trồng cây vào đất của Công ty L3, nhiều lần Công ty L3 yêu cầu anh N không được trồng cây và trả lại đất cho Công ty, nhưng anh N không trả. Do đó, yêu cầu hộ anh N phải tự khai thác, thu hoạch toàn bộ cây trồng trên đất để trả lại đất cho Công ty L3.
1.3. Yêu cầu của nguyên đơn:
- - Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N và những người liên quan trả lại cho Công ty L3 phần diện tích đất là 17.324,2m² đã lấn chiếm tại khe S - Đ khu N, xã T (thuộc lô N1, khoảnh 46 của Bản đồ thiết kế trồng rừng của Công ty L3);
- - Đối với tài sản trên đất: Yêu cầu hộ tự phát, dọn để trả lại mặt bằng cho Công ty.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn, Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn trình bày:
2.1. Nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và tranh chấp phát sinh: Năm 1990, gia đình Bị đơn khai hoang, sử dụng khoảng 1,5 ha đất tại khe S để làm lán trại chăn nuôi, trồng N1, L2. Từ năm 1996, gia đình đã hợp tác trồng cây lâm nghiệp liên doanh với Lâm trường T1 đến năm 2020. Do hợp tác không hiệu quả, nên năm 2021 gia đình đã tự trồng cây Mỡ, B, T.
2.2. Về quyền sử dụng đất: Gia đình ông chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giao đất cho người dân để người dân có đất để sử dụng. Gia đình ông không biết Công ty L3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất mà gia đình đang sử dụng.
2.3. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Đề nghị Tòa án lấy dân làm gốc, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để có hướng giải quyết vụ án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân theo Biên bản làm việc tại khu dân cư.
- - Đối với tài sản trên đất, trong trường hợp đất thuộc quyền sử dụng của Công ty L3 và buộc Bị đơn trả lại đất cho Công ty L3 gia đình sẽ tự thu hoạch cây trồng trên đất. Tại phiên tòa, Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên tiếp tục chăm sóc cây trồng trên đất.
Quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phùng Văn H và bà Bùi Thị B (vợ ông H) nhất trí với quan điểm của Bị đơn.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Đề nghị nguyên đơn tạo điều kiện để bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn được tiếp tục canh tác, sử dụng đất đến hết chu kỳ khai thác của cây bị đơn đã trồng. Sau khi thu hoạch, bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn.
Tại Bản án số: 06/2023/DS-ST ngày 24/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 166; khoản 1, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ các Điều 163, 164 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39;khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 26, điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất lâm nghiệp của Tổng công ty G - Người đại diện theo ủy quyền là ông Khổng Hồng Q – chức vụ: Phó giám đốc Công ty L3 và ông Nguyễn Khắc L1 – chức vụ: chuyên viên pháp chế Tổng công ty G đối với anh Phùng Văn N.
- Buộc anh Phùng Văn N, ông Phùng Văn H, bà Bùi Thị B phải trả lại cho Tổng công ty G thửa đất lâm nghiệp có diện tích 17.324,2 m² tại khu vực S – Đèo Cón thuộc khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ mà Lâm trường T1 – Công ty N3 (nay là Chi nhánh Công ty L3 trực thuộc Tổng công ty G) được UBND tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) giao cho tại Quyết định số: 604/QĐ-UB và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/3/1998.
Cụ thể như sau: Theo hướng từ huyện T, tỉnh Phú Thọ đi huyện P, tỉnh Sơn La được xác định, từ khe nhỏ tiếp giáp với phần đất Công ty L3 đang sử dụng đến khe nhỏ tiếp giáp với phần đất Công ty L3 đang sử dụng; phía trên giáp đất Công ty L3 đang sử dụng, phía dưới giáp đường Q. Trên phần đất hộ anh N phải trả cho Công ty L3 trực thuộc Tổng công ty G có 01 con đường lâm nghiệp (do Công ty L3 làm) có chiều rộng 5m, chiều dài chạy qua toàn bộ thửa đất và chia đất thành 02 thửa.
- + Thửa 01 (phía trên đường lâm nghiệp): Theo các chỉ giới (tọa độ) 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,1 = 8740,5m².
- + Thửa 02 (phía dưới đường lâm nghiệp, giáp đường Quốc lộ): Theo các chỉ giới (tọa độ) 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,21,21,1 = 8583,7m².
(Có 02 (hai) Sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo)
- Buộc anh Phùng Văn N, ông Phùng Văn H và bà Bùi Thị B phải khai thác cây trồng và tháo dỡ toàn bộ tài sản trên 17.324,2 m² đất khi trả lại cho Tổng công ty G gồm: Cây Bồ đề trồng hạt 01 năm: 2.800 cây; Cây Keo trồng hạt 01 năm: 400 cây; Cây Trẩu trồng hạt 01 năm: 200 cây; C, V 100cm: 15 cây; Cây Mỡ vanh trung bình 60 cm: 19 cây; Cây Xoan vanh trung bình 60cm: 20 cây. Và tháo dỡ hàng rào bằng thân cây Vầu, có dây thép gai cao khoảng 1m: Thửa 01 (phía trên đường lâm nghiệp) có chiều dài 220,68m (được rào giáp khe, cạnh phía giáp đất Công ty L3 đang sử dụng có ngôi nhà của Đ và cạnh phía trên của thửa đất); Thửa 02 (phía dưới đường lâm nghiệp, giáp đường Quốc lộ) có chiều dài 411,76m (được rào xung quanh toàn bộ thửa đất). Tại biên bản định giá ngày 21/4/2023 đã xác định toàn bộ tài sản trên đất trị giá 29.456.700 đồng. Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, ông Phùng Văn H có đơn kháng cáo với nội dung: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Phùng Văn H. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Ông H là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Phùng Văn H trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Ông Phùng Văn H kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn vì lý do: Gia đình ông không lấn chiếm đất của Công ty L3 vì gia đình ông đã canh tác từ những năm 1990 nhưng chưa được cấp bìa, Công ty L3 được cấp bìa sau khi gia đình ông đã canh tác trên đất.
Xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc và quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp:
Ngày 31/3/1998, Lâm trường Thu C1 thuộc Công ty N3 (nay là chi nhánh Công ty L3 trực thuộc Tổng công ty G) được UBND tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) giao quyền sử dụng diện tích 3.483,0ha tại xã T, huyện T (nay là huyện T) theo Quyết định số: 604/QĐ-UB và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1800450 ngày 31/3/1998; Thời hạn: 50 năm; Mục đích: Chuyên dùng sản xuất lâm nghiệp. Ngày 19/12/2011, UBND tỉnh P ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND thu hồi một phần diện tích đất của Công ty L3 – Tổng công ty G trên địa bàn huyện T. Cụ thể, tại địa bàn xã T thì thu hồi của Công ty L3 và giao cho UBND xã T quản lý diện tích đất là 32.620.279,7m².
Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/4/2023, đại diện UBND xã T, đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, cán bộ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và cán bộ Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã T đều xác định: Vị trí thửa đất hộ anh Phùng Văn N đang sử dụng tại khe S - Đ tại khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ nằm trong khoảnh 2, tiểu khu A của Bản đồ giao đất lâm nghiệp thuộc quyền sử dụng đất của Công ty L3 và không nằm trong phần diện tích đất mà UBND tỉnh P đã quyết định thu hồi của Công ty L3 – Tổng công ty G. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần diện tích đất mà hộ anh Phùng Văn N đang sử dụng để canh tác thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Công ty L3 – Tổng công ty G là đúng.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất của hộ ông Phùng Văn H:
Hộ ông Phùng Văn H đã khai hoang, sử dụng đất từ những năm 1990 nhưng không kê khai làm các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1998, Lâm trường Thu C1 (nay là Công ty L3) được UBND tỉnh V cấp GCNQSDĐ và thực hiện quyền của người sử dụng đất từ năm 1999 đến năm 2012, hộ ông H không có ý kiến gì. Đến năm 2013, do hộ ông H có đơn đề nghị nên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T và UBND xã T đã tổ chức buổi làm việc, trong đó xác định đất lâm nghiệp tại khe S thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty L3, ông H đồng ý trả lại khu đất tại khe S và nhận trồng rừng khoán cả chu kỳ với Công ty L3. Bản thân ông H trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và cả trong đơn kháng cáo đều xác nhận có biết việc Công ty L3 đã được cấp GCNQSDĐ và gia đình ông đã ký hợp đồng liên doanh với Công ty từ năm 1999 cho đến năm 2021 (ông Phùng Văn H và anh Phùng Văn N). Do đó, việc ông H cho rằng phải xem xét lại nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất của gia đình ông là không có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty L3 – Tổng Công ty G có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích 17.324,2m² đất lâm nghiệp tại khe S - Đ khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai thác cây trồng, tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất để trả lại nguyên trạng diện tích đất nêu trên cho Tổng Công ty G là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Phùng Văn H.
[3] Về án phí: Ông Phùng Văn H là người cao tuổi và là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Phùng Văn H.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 06/2023/DS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 5 Điều 166; khoản 1, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ các Điều 163, 164 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 26, điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất lâm nghiệp của Tổng công ty G - Người đại diện theo ủy quyền là ông Khổng Hồng Q – chức vụ: Phó giám đốc Công ty L3 và ông Nguyễn Khắc L1 – chức vụ: chuyên viên pháp chế Tổng công ty G đối với anh Phùng Văn N.
- Buộc anh Phùng Văn N, ông Phùng Văn H, bà Bùi Thị B phải trả lại cho Tổng công ty G thửa đất lâm nghiệp có diện tích 17.324,2 m² tại khu vực S – Đèo Cón thuộc khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ mà Lâm trường T1 – Công ty N3 (nay là Chi nhánh Công ty L3 trực thuộc Tổng công ty G) được UBND tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) giao cho tại Quyết định số: 604/QĐ-UB và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/3/1998.
Cụ thể như sau: Theo hướng từ huyện T, tỉnh Phú Thọ đi huyện P tỉnh Sơn La được xác định, từ khe nhỏ tiếp giáp với phần đất Công ty L3 đang sử dụng đến khe nhỏ tiếp giáp với phần đất Công ty L3 đang sử dụng; phía trên giáp đất Công ty L3 đang sử dụng, phía dưới giáp đường Q.Trên phần đất hộ anh N phải trả cho Công ty L3 trực thuộc Tổng công ty G có 01 con đường lâm nghiệp (do Công ty L3 làm) có chiều rộng 5m, chiều dài chạy qua toàn bộ thửa đất và chia đất thành 02 thửa.
- + Thửa 01 (phía trên đường lâm nghiệp): Theo các chỉ giới (tọa độ) 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,1 = 8740,5m².
- + Thửa 02 (phía dưới đường lâm nghiệp, giáp đường Quốc lộ): Theo các chỉ giới (tọa độ) 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,21,21,1 = 8583,7m².
(Có 02 (hai) Sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo)
- Buộc anh Phùng Văn N, ông Phùng Văn H và bà Bùi Thị B phải khai thác cây trồng và tháo dỡ toàn bộ tài sản trên 17.324,2m² đất khi trả lại cho Tổng công ty G gồm: Cây Bồ đề trồng hạt 01 năm: 2.800 cây; Cây Keo trồng hạt 01 năm: 400 cây; Cây Trẩu trồng hạt 01 năm: 200 cây; C, V 100cm: 15 cây; Cây Mỡ vanh trung bình 60 cm: 19 cây; Cây Xoan vanh trung bình 60cm: 20 cây. Và tháo dỡ hàng rào bằng thân cây Vầu, có giây thép gai cao khoảng 1m: Thửa 01 (phía trên đường lâm nghiệp) có chiều dài 220,68m (được rào giáp khe, cạnh phía giáp đất Công ty L3 đang sử dụng có ngôi nhà của Đ và cạnh phía trên của thửa đất); Thửa 02 (phía dưới đường lâm nghiệp, giáp đường Quốc lộ) có chiều dài 411,76m (được rào xung quanh toàn bộ thửa đất). Tại biên bản định giá ngày 21/4/2023 đã xác định toàn bộ tài sản trên đất trị giá 29.456.700 đồng.
- Về chi phí tố tụng khác: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn, nguyên đơn phải nộp 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ.
-
Về án phí:
- - Án phí sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho anh Phùng Văn N.
- Trả lại cho Tổng công ty G do ông Khổng Hồng Q là người đại diện theo ủy quyền số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: AA/2018/0007491 ngày 28/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- - Án phí phúc thẩm: Ông Phùng Văn H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 78/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 78/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổng Công ty Giấy VN - Phùng Văn N - Tranh chấp QSDĐ
