Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 29 - 10- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Phan Đình Sơn.
    • Ông Nguyễn Thanh Bình.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Sầm Mạnh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Văn S, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1982 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; họ và tên vợ: Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và có 01 con; tiền sự: Không, tiền án: Ngày 06/3/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 54/2023/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 06/7/2013. Ngày 17/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 48/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 18/11/2015. Ngày 28/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 61/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 28/9/2017. Ngày 23/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 14/2018/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 30/4/2020. Ngày 23/5/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 85/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 15/7/2024; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn H, sinh năm 1962; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 18/8/2024, sau khi ăn sáng tại thị trấn N, huyện N xong, Phan Văn S điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Ariblade màu đen, BKS: 37N5 – 6490 đi về nhà. Khi đi đến cổng chợ S1, thị trấn N, Phan Văn S điều khiển xe đi vào cửa hàng bán hoa quả của chị Nguyễn Thị Thanh H1 tại cổng chợ S1 để mua lễ thắp hương. Sau khi dừng xe thì Phan Văn S thấy trong hốc để đồ phía trước bên trái chiếc xe Vision, BKS: 37M1 – 838.46 đang để ở trước cửa hàng có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu trắng của bà Nguyễn Thị T1 nên Phan Văn S đã dùng tay trái của mình lấy chiếc điện thoại trên. Lúc này, chị Nguyễn Thị Thanh H1 phát hiện và hô hoán nên Phan Văn S đã kẹp chiếc điện thoại ở dưới yên xe và phóng xe bỏ chạy. Khi đến cửa hàng Đ thì không làm chủ được tốc độ nên Phan Văn S bị ngã và làm rơi chiếc điện thoại vừa trộm được. Do hoảng sợ nên Phan Văn S đã bỏ chiếc xe máy và điện thoại lại rồi đi bộ về nhà.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1413 ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y21 màu trắng, mua tháng 12/2021 với giá 4.290.000 đồng (bốn triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Hiện tại máy vẫn đang hoạt động bình thường, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá 1.400.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 90/CT-VKSNĐ, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ quyền công tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Phan Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn S mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Văn S có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 1.400.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.400.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng không coi đó là bài học, bị cáo đã nhận thức được sai trái của mình. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về phụng dưỡng mẹ già và lao động để kiếm tiền bồi thường cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn S đã khai nhận hành vi của mình; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 18/8/2024, tại khu vực chợ S1, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Phan Văn S đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt một chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y21, màu trắng của bà Nguyễn Thị T1 trị giá 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 85/2022/HS-ST, ngày 23/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên hành vi của Phan Văn S đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 90/CT-VKSNĐ, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Văn S là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt chính:

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự nhưng có nhân thân xấu, bị cáo đã 04 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng không coi đó là bài học để rèn luyện bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú và có thời gian công tác trong quân ngũ từ năm 2000 đến năm 2008. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 1.400.000 đồng. Bị cáo Phan Văn S đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền trên cho bà Nguyễn Thị T1.

[7]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Airblade, màu đen, biển kiểm soát 37N5 – 6490, xe đã qua sử dụng, chất lượng công kiểm tra. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của ông Phan Văn H không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, ông Phan Văn H không có yêu cầu gì về chiếc xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn S 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 21 tháng 8 năm 2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phan Văn S có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được Thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Cơ quan Điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA, VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn S "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger