|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/DS-ST Ngày: 29/5/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).
Địa chỉ: Số B N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc.
Pháp nhân được ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Tổng giám đốc.
Ông Lê Ngọc T uỷ quyền cho ông Nguyễn Thanh H - Nhân viên (Giấy uỷ quyền số 442/2023/UQ-TGD ngày 10/3/2023) - Có mặt.
Bị đơn: Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1994 (Có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 04/9/2015 Ngân hàng TMCP S (viết tắt là S1) và ông Đỗ Văn T1 đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).
Căn cứ vào thu nhập của ông T1, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 25.500.000 đồng, lãi suất trong hạn 2,5%/tháng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay ông T1 đã thanh toán cho S1 số tiền là 21.200.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 01/6/2017 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 29/5/2024, ông T1 còn nợ S1 tổng số tiền: 25.766.422 đồng; trong đó nợ gốc 6.144.022 đồng và lãi quá hạn 19.622.400 đồng.
Nay S1 yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến 29/5/2024 tổng số tiền: 25.766.422 đồng. Trong đó nợ gốc 6.144.022 đồng và lãi quá hạn 19.622.400 đồng. Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 30/5/2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/9/2015 cho đến khi ông T1 thanh toán xong các khoản nợ cho S1.
2. Tại Bản tự khai bị đơn ông Đỗ Văn T1 trình bày:
Ngày 04/9/2015 ông đã ký với Ngân hàng TMCP S giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng và điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng thực tế người khác thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 25.500.000 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông trả số tiền tính đến ngày 28/02/2023 là 22.264.342 đồng, bao gồm nợ gốc 6.144.022 đồng, nợ lãi quá hạn 16.120.320 đồng. Hiện nay do làm ăn khó khăn ông đề nghị Ngân hàng xem xét cho trả dần nợ gốc mỗi tháng 500.000 đồng, về lãi đề nghị miễn giảm cho ông.
3. Ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa:
Ý kiến của nguyên đơn: S1 yêu cầu ông Đỗ Văn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 29/5/2024 là: 25.766.422 đồng, trong đó nợ gốc 6.144.022 đồng và lãi quá hạn 19.622.400 đồng. Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 30/5/2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/9/2015 cho đến khi ông T1 thanh toán xong khoản nợ cho S1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1.Về thẩm quyền giải quyết: S1 khởi kiện ông Đỗ Văn T1 về việc tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng. Bị đơn là ông Đỗ Văn T1 đang cư trú tại thôn P, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S (S1) và ông Đỗ Văn T1 có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 405, 406, 407 của Bộ luật dân sự năm 2005 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay ông T1 đã thanh toán cho S1 số tiền là 21.200.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 01/6/2017 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Vì vậy, S1 khởi kiện yêu cầu ông T1 trả số tiền nêu trên là có căn cứ phù hợp với các Điều 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005.
Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho S1 trong việc thu hồi nợ. Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của S1, buộc ông T1 phải có nghĩa vụ trả cho S1 tính đến ngày 29/ 5/2024 số tiền là: 25.766.422 đồng, trong đó nợ gốc 6.144.022 đồng và lãi quá hạn 19.622.400 đồng. Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 30/5/2024 theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/9/2015 cho đến khi ông T1 thanh toán xong khoản nợ cho S1.
2.2. Về án phí:
- Yêu cầu khởi kiện của S1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí, hoàn trả S1 tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Ông T1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là: 25.766.422 đồng x 5% = 1.288.321 đồng.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 471, 474, 405, 406, 407 Bộ luật dân sự năm 2005;
Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Đỗ Văn T1 về việc tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng.
2. Về trách nhiệm trả nợ: Buộc ông Đỗ Văn T1 phải trả Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 29/5/2024 là: 25.766.422 đồng, trong đó nợ gốc: 6.144.022 đồng; nợ lãi quá hạn: 19.622.400 đồng.
Kể từ ngày 30/5/2024, ông T1 tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
3. Về án phí: Ông Đỗ Văn T1 phải nộp 1.288.321 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng TMCP S số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001669 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Tp ..
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - TAND Tp. Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ; - Đương sự; - Lưu HS, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Lợi |
Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 29/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 78/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bị đơn phải trả nợ
