|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày 29 – 5 – 2024 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Liên
2. Bà Nguyễn Thị Bạn
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham
gia phiên tòa: Ông Đào Anh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 983/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, đơn thay đổi nội dung khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Tôi và ông Phan Văn H tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào ngày 07/02/2003. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống nên sinh ra cãi vã nhau, không có tiếng nói chung. Ông Phan Văn H không chăm lo quan tâm gì đến gia đình vợ con mà chỉ lo cho bản thân ông H và thường xuyên ăn chơi rượu chè say xỉn về chửi bới xúc phạm, đánh vợ dẫn đến vợ chồng không hòa thuận không có tiếng nói chung. Tôi đã khuyên bảo góp ý nhiều lần nhưng ông Phan Văn H không sửa đổi, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng kéo dài cho đến nay và chúng tôi đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Phan Văn H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phan Văn H.
Về con chung: Tôi và ông Phan Văn H có 03 con là Phan Nguyễn Gia H1, sinh ngày 30/3/2006; Phan Nguyễn Gia H2, sinh ngày 25/11/2008; Phan Nguyễn Gia H3, sinh ngày 22/10/2010, hiện nay các cháu đang ở với tôi. Khi ly hôn nguyện vọng của tôi xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phan Nguyễn Gia H2, sinh ngày 25/11/2008 và Phan Nguyễn Gia H3, sinh ngày 22/10/2010 đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi và ông Phan Văn H tự giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Phan Nguyễn Gia H1, sinh ngày 30/3/2006 đã trưởng thành, phát triển bình thường, tự nuôi sống được bản thân. Do đó vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tôi và ông Phan Văn H tự giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Phan Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Phan Văn H vắng mặt không tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án, thời hạn xét xử đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 97, từ Điều 171 đến Điều 175, Điều 177, Điều 203, Điều 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với ông Phan Văn H.
Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phan Nguyễn Gia H2, sinh ngày 25/11/2008 và Phan Nguyễn Gia H3, sinh ngày 22/10/2010 cho đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu giải quyết.
Đối với con chung là Phan Nguyễn Gia H1, sinh ngày 30/3/2006 đã trưởng thành, phát triển bình thường, tự nuôi sống được bản thân. Do đó vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Tuyết M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung giữa bà với ông Phan Văn H, đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Bị đơn ông Phan Văn H có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông Phan Văn H nhưng ông Phan Văn H không tham gia tố tụng, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà bị đơn ông Phan Văn H vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Phan Văn H tự nguyện chung sống và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào ngày 07/02/2003, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Tuyết M xác định vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống nên sinh ra cãi vã nhau, không có tiếng nói chung. Ông Phan Văn H không chăm lo quan tâm gì đến gia đình vợ con mà chỉ lo cho bản thân ông H và thường xuyên ăn chơi rượu chè say xỉn về chửi bới xúc phạm, đánh vợ dẫn đến vợ chồng không hòa thuận không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng kéo dài cho đến nay và đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Phan Văn H nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Phan Văn H.
Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Phan Văn H thường xuyên xẩy ra mẫu thuẫn, cãi vã nhau, không cùng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Hiện nay ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị Tuyết M đã sống ly thân.
Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Phan Văn H có xảy ra, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Bà Nguyễn Thị Tuyết M đã cương quyết xin ly hôn với ông Phan Văn H, vì vậy nếu kéo dài quan hệ hôn nhân thì không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Tuyết M, giải quyết cho bà Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với ông Phan Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Phan Văn H có 03 con là Phan Nguyễn Gia H1, sinh ngày 30/3/2006; Phan Nguyễn Gia H2, sinh ngày 25/11/2008; Phan Nguyễn Gia H3, sinh ngày 22/10/2010.
Khi ly hôn nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Tuyết M xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phan Nguyễn Gia H2, sinh ngày 25/11/2008 và Phan Nguyễn Gia H3, sinh ngày 22/10/2010 đến tuổi trưởng thành.
Xét thấy các cháu Phan Nguyễn Gia H2, Phan Nguyễn Gia H3 đang ở cùng bà Nguyễn Thị Tuyết M, đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý và xin được ở với bà Nguyễn Thị Tuyết M. Vì vậy việc giao các con chung cho bà Nguyễn Thị Tuyết M trực tiếp chăm sóc sẽ tốt cho sự phát triển của các cháu và phù hợp với nguyện vọng của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phan Nguyễn Gia H2 và Phan Nguyễn Gia H3 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Phan Nguyễn Gia H1, sinh ngày 30/3/2006 đã trưởng thành, phát triển bình thường, tự nuôi sống được bản thân. Do đó vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết M tự giải quyết không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn với ông Phan Văn H.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phan Nguyễn Gia H2, sinh ngày 25/11/2008 và Phan Nguyễn Gia H3, sinh ngày 22/10/2010 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu nên không giải quyết.
Đối với con chung là Phan Nguyễn Gia H1, sinh ngày 30/3/2006 đã trưởng thành, phát triển bình thường, tự nuôi sống được bản thân. Do đó vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng không yêu cầu nên không giải quyết.
Ông Phan Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp (Ông Nguyễn Thành Đ nộp thay) theo biên lai số AA/2023/0004401 ngày 21/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đại Minh |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
