TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 78/2023/HSST Ngày: 28/11/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Viết Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hằng và bà Lê Thị Thúy Hằng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Văn T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 02 năm 1964 tại: huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10. Nghề nghiệp: Hưu trí; Chức vụ: nguyên cán bộ Công chức Địa chính xã N, huyện N đã nghỉ hưu; Đảng phái: Nguyên là đảng viên Đ1. Đã xử lý kỷ luật khai trừ khỏi đảng ngày 19 tháng 9 năm 2023; Con ông: Hồ Viết T1 ( Đã chết) và bà: Trần Thị B (Đã chết); Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1967; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị M1, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Chị Võ Thị D, sinh năm 1980; Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị N, sinh năm 1954; Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Anh Lang Văn T2, sinh năm 1983; Địa chỉ: xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Anh Lang Văn T3, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lang Văn L, sinh năm 1965; Địa chỉ: xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình làm cán bộ Công chức Địa chính Ủy ban nhân dân xã N, huyên N, tỉnh Nghệ An ( Từ năm 1996 đến năm 2018), ông Hồ Văn T có nhiệm vụ tham gia trích đo đạc các thửa đất và xác nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân, có trách nhiệm thông báo cho 21 hộ dân nộp tiền vào ngân sách Nhà nước để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân. Khi nộp tiền vào ngân sách nhà nước và làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân, ông Hồ Văn T biết trước được diện tích thửa đất cấp cho các hộ dân và biết được số tiền cần phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, sau khi tính toán diện tích các thửa đất và số tiền cần nộp vào ngân sách Nhà nước để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T đã yêu cầu các hộ dân đưa tiền cho ông T nhiều hơn so với số tiền thực tế cần phải nộp vào ngân sách Nhà nước để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm hưởng lợi số tiền của các hộ dân. Cụ thể các hộ dân sau:
Các hộ dân nộp tiền cho Hồ Văn T để ông T nộp vào ngân sách Nhà nước để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có: hộ anh Lang Văn T3, sinh năm 1988, vợ là chị Hà Kim D1; hộ anh Lang Văn T2, sinh năm 1983, vợ là chị Lê Thị N1; hộ anh Vy Đức M2, sinh năm 1983, vợ là chị Lục Thị L1; hộ anh Lục Quốc Q, sinh năm 1992, vợ là chị Vi Thị N2; hộ anh Vi Văn K, sinh năm 1988, vợ là chị Trần Thị H; hộ anh Vy Văn K1, sinh năm 1986, vợ là chị Hà Thị H1, hộ anh Vy Văn D2, sinh năm 1985, vợ là Nguyễn Thị H2, hộ anh Lô Xuân H3, sinh năm 1982, vợ là chị Lang Thị L2; hộ anh Nguyễn Đức H4, sinh năm 1979, vợ là Hồ Thị M3, hộ bà Lục Thị H5, sinh năm 1971 đều trú tại xóm Q, xã N, huyện N; hộ anh Lô Văn G, sinh năm 1991, vợ là chị Lang Thị Thu H6, trú tại xóm D xã N, huyện N; hộ anh Lục Đình Q1, sinh năm 1996, vợ là chị Ngân Thị H7; hộ anh Hà Công Đ, sinh năm 1974, vợ là chị Lang Thị T4, trú tại xóm E xã N, huyện N; Hộ anh Lê Anh D3, sinh năm 1985, vợ là Hoàng Thị M1, sinh năm 1988; hộ chị Võ Thị D, sinh năm 1980, cùng trú tại xóm H, xã N, huyện N; hộ anh Trương Văn C, sinh năm 1978, vợ là chị Trương Thị H8; hộ anh Lưu Văn V,sinh năm 1967, vợ là Nguyễn Thị H9; hộ anh Trương Văn T5, sinh năm 1959, vợ là Trương Thị L3, đều trú tại xóm Đ, xã N, huyện N; hộ anh Trần Văn S, sinh năm 1974, vợ là Đặng Thị H10; hộ anh Trần Thế K2, sinh năm 1989, vợ là Trần Thị N; hộ bà Trần Thị H11, sinh năm 1949, đều trú tại xóm X, xã N, huyện N.
Trong đó có 17 hộ nộp đúng số tiền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T đã nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước, còn lại 04 hộ trực tiếp nộp cho ông T số tiền nhiều hơn số tiền thực tế phải nộp vào ngân sách nhà nước để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm có:
- Hộ anh Lang Văn T2, vợ là Lê Thị N1: Vào cuối năm 2017, được Nhà nước cấp đất cho hộ gia đình. Ủy ban nhân dân xã N đã thông báo cho hộ gia đình anh Lang Văn T2 đến Trụ sở ủy ban nhân dân xã N để nhận thông báo nộp tiền và nộp các khoản chi phí khác để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc đó gia đình anh T2 nhờ Hồ Văn T đi nộp tiền cho gia đình anh T2 tại Chi cục Thế huyện N. Ông Hồ Văn T đã yêu cầu hộ gia đình anh Lang Văn T2 đưa cho ông T số tiền 17.500.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Số tiền này anh Lang Văn T2 đã đưa trực tiếp cho Hồ văn Thuấn tại Ủy ban nhân dân xã N, có viết giấy giao nhận tiền giữa ông T và anh T2. Tuy nhiên, số tiền thực tế ông T nộp vào ngân sách Nhà nước để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình anh Lang Văn T2 là 14.190.000 đồng. Số tiền còn lại 3.310.000 đồng ông T không trả lại cho hộ gia đình anh Lang Văn T2 mà sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
- Hộ anh Lang Văn T3, vợ là chị Hà Kim D1: Vào cuối năm 2017 được Nhà nước cấp đất ở cho hộ gia đình. Ủy ban nhân dân xã N đã thông báo cho hộ gia đình anh Lang Văn T3 đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã N để nhận thông báo nộp tiền và nộp các khoản chi phí khác để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình anh T3 nhờ ông Hồ Văn T đi nộp hộ tiền cho gia đình anh T3 tại Chi cục Thuế huyện N. Ông Hồ Văn T đã yêu cầu hộ gia đình anh Lang Văn T3 đưa cho ông T số tiền 17.500.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước. Số tiền này vợ chồng anh Lang Văn T3 đã trực tiếp nộp cho ông T tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, có viết giấy giao nhận tiền giữa ông T và anh T3. Tuy nhiên số tiền thực tế ông T nộp vào ngân sách nhà nước để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình anh Lang Văn T3 là 14.190.000 đồng. Số tiền còn lại 3.310.000 đồng ông T không trả lại cho hộ gia đình anh Lang Văn T3 mà sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
- Hộ anh Lê Anh D3, và chị Hoàng Thị M1: Vào cuối năm 2017 đến đầu năm 2018, thì ông T nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi gia đình anh D3 nhận chuyển nhượng thửa đất từ gia đình anh Võ Văn P, sinh năm 1978, trú tại xóm H, xã N, huyện N. Diện tích được chuyển nhượng là 393m2, diện tích cần chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở là 300m². Với diện tích cần chuyển đổi thì ông T đã yêu cầu gia đình anh D3 nộp số tiền 19.000.000 đồng, gồm hai Lần. Lần thứ nhất nộp vào ngày 01/12/2016, số tiền 2.000.000 đồng, do chị Hoàng Thị m đưa đến nhà ông T nộp cho ông T; lần thứ hai nộp vào ngày 24/02/2017, số tiền 17.000.000 đồng, do ông Hoàng Văn T6, sinh năm 1964, trú tại xóm H, xã N, huyện N ( Là bố đẻ của chị Hoàng Thị M1) đến nhà ông T giao nộp cho ông T. Tuy nhiên, số tiền thực tế ông T chỉ nộp vào ngân sách Nhà nước để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ anh D3 và chị M1 là 14.637.000 đồng. Sau khi làm xong, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số tiền còn lại 4.363.000 đồng, ông T không trả lại cho gia đình anh D3, chị M1 mà sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
- Hộ chị Võ Thị D4: Vào đầu năm 2018, chị D được nhận chuyển nhượng thửa đất của anh Võ Văn P (Cũng là người chuyển nhượng đất cho hộ anh Lê Anh D3), do đi làm ăn xa nên việc chuyển nhượng đất, chị D đã nhờ mẹ đẻ của mình là bà Trần Thị N, sinh năm 1954, trú tại xóm H, xã N, huyện N làm hộ. Bà N đã liên hệ với Hồ Văn T và nhờ T làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị D thì ông T đồng ý. Diện tích đất được chuyển nhượng là 418,7m2, diện tích cần chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở là 300m². Sau khi làm một số thủ tục thì đầu năm 2018, Hồ Văn T đã yêu cầu gia đình chị D (Cụ thể là bà N) đưa cho ông T số tiền 18.000.000 đồng. Bà T7 trực tiếp đưa đến nhà ông T và có giấy viết giao nhận tiền. Tuy nhiên, số tiền thực tế phải nộp vào ngân sách Nhà nước để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 14.656.000 đồng. Số tiền còn lại 3.344.000 đồng, ông T không trả lại cho hộ gia đình chị Võ Thị D4 mà sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Đối với các hộ còn lại ông T nhận tiền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T đã nộp tiền vào ngân sách Nhà nước cho các hộ như số tiền ông T đã thu. Quá trình điều tra xác định số tiền mà ông T thu của các hộ dân còn lại đúng với số tiền cần nộp vào ngân sách nhà nước. Sau khi ông T nộp tiền vào ngân sách nhà nước thì ông T đã thông báo cho các hộ dân và các hộ dân còn lại không có yêu cầu gì đối với ông Hồ Văn T.
Ngoài ra, năm 2011, hộ anh Lưu Văn V, vợ là chị Nguyễn Thị H9, hộ anh Trương Văn C, vợ là Trương Thị H8 được Nhà nước cấp đất ở. Ông T yêu cầu 02 hộ gia đình này đưa cho ông T mỗi hộ là 1.500.000 đồng để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Tuy nhiên do diện tích đất được cấp chồng lần lên diện tích đất Lâm nghiệp nên chưa làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T có đề nghị trả lại số tiền này cho 02 hộ gia đình anh Lưu Văn V và hộ gia đình anh Trương Văn C. Tuy nhiên, các hộ gia đình này đề nghị ông T giữ lại số tiền đó và sau khi giải quyết xong đất được nhà nước cấp cho 02 hộ dân này thì ông T có trách nhiệm chi phí để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, tổng số tiền ông T thu, nhận để làm Giấy chứng nhận quyện sử dụng đất cho 04 hộ dân, gồm: Hộ anh Lê Anh D3, hộ chị Võ Thị D, hộ anh Lang Văn T2, hộ anh Lang Văn T3 là 72.000.000 đồng. Sau khi nộp số tiền 57.673.000 đồng vào ngân sách Nhà nước để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Số tiền còn lại là 14.327.000 đồng, ông Hồ Văn T không trả lại cho 04 hộ dân mà thu lợi nhằm sử dụng vào mục đích cá nhân.
Cáo trạng số 78/CT-VKSNgĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 356; cac điểm b,s,v khoản 1 khoản 2 điều 51; điều 65 BLHS xử phạt: bị cáo Hồ Văn T từ 12 -15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 – 30 tháng. Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo do hoàn cảnh khó khăn. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nêm miễn xét.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được:Trong thời gian từ đầu năm 2017 đến 2018, Hồ Văn T là Công chức địa chính Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, đã có hành vi nhận tiền của 04 hộ dân gồm: Hộ gia đình anh Lê Anh D3, hộ gia đình chị Võ Thị D, trú tại xóm H, xã N, huyện N; hộ gia đình anh Lang Văn T2, hộ gia đình anh Lang Văn T3, trú xóm Q, xã N, huyện N với số tiền là 72.000.000 đồng để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình. Số tiền thực tế nộp vào ngân sách nhà nước là 57.673.000 đồng, ông T đã nộp tại Chi cục T để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 04 hộ dân trên. Số tiền còn lại là 14.327.000 đồng, ông Hồ Văn T không trả lại cho 04 hộ dân trên mà chiếm đoạt nhằm sủ dụng vào mục đích cá nhân. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Hồ Văn T đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự như cáo trạng quy kết là có căn cứ pháp luật.
Đây là vụ án do bị cáo thực hiện với lỗi cố ý đã lợi dụng vào quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản của anh Lê Văn D5, chị Võ Thị D, anh Lang Văn T2, anh Lang Văn T3 do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bản thân có nhiều thành tích được tặng nhiều giấy khen và bằng khen. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v, s, b khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà xử phạt tù giao về cho địa phương quản lý giáo dực cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về dân sự: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được trả lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tuổi đã cao, thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b, v, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hồ Văn T về cho cho UBND xã N, huyện N, Nghệ An giám sát trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại điều 69 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Hồ Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Viết Hà |
Bản án số 78/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN về lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 78/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án hình sự
