Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 28/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng.
Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Bà Dương Thị Kim Hồng.
Bà Phạm Thị Thà.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thơi– Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Quang A, sinh năm 1999, tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở trước khi bị bắt: khu dân cư P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Lê Hồng K và con bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Chu Thanh N, văn phòng luật sư Chu Văn C, thuộc đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ số A đường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1971;
  2. Chị Bạc Thị O, sinh năm 2004;
  3. Anh Lê Văn N1, sinh năm 2005;

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 04/01/2024, Lê Quang A đang ở phòng trọ số 1 thuê của ông Nguyễn Văn C1, ở khu dân cư P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương thì thấy Lê Văn N1 (là người thuê nhà trọ tại T, K, Hải Dương) là chủ tài khoản Facebook “Nguyễn Mạnh C2” gọi điện thoại qua ứng dụng M đến tài khoản Facebook “Lê Quang A” (đăng ký bằng số điện thoại 0966.855.xxx của A), hỏi mua 01 túi ma túy loại Ketamine. Anh báo giá là 1.200.000 đồng và hẹn N1 đến phòng trọ của Quang A để giao dịch. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại trước cửa phòng trọ số 1, khi Quang A đang giao 01 túi nilon chứa ma túy loại Ketamine cho N1 và nhận 1.200.000 đồng từ N1 thì bị tổ công tác Cơ quan CSĐT Công an thị xã K phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay trái Lê Văn N1 01 túi nilon màu trắng kích thước (1,5x1,5)cm viền mép màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ tại lòng bàn tay phải Lê Quang A số tiền 1.200.000 đồng. Lê Quang A tự nguyện giao nộp: 24 viên nén hình lục giác màu trắng trên mặt mỗi viên có ký hiệu VL đan vào nhau, 230 viên nén hình lục giác màu trắng trên mặt mỗi viên có ký hiệu VL đan vào nhau được đựng trong túi nilon màu trắng kích thước (25x10)cm; 10 túi nilon màu trắng kích thước mỗi túi (1,5x1,5)cm viền mép màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng kích thước (15x10)cm bên trong chứa 32 túi nilon màu trắng viền mép màu đỏ kích thước (1,5x1,5)cm bên trong mỗi túi có chứa chất tinh thể màu trắng. Lê Quang A khai nhận các viên nén và chất tinh thể màu trắng nêu trên là ma túy tổng hợp loại MDMA và Ketamine, thường gọi là “kẹo”, “ke” do Quang A mua tại một quán bar ở Đ, thành phố Hải Phòng của người không quen biết với giá 40 triệu đồng từ trưa ngày 20/12/2023, rồi mang về cất giấu tại phòng trọ, mục đích để bán kiếm lời.

Tại bản Kết luận giám định số 89 ngày 06/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng viền mép màu đỏ thu của Lê Văn N1 có khối lượng 0,442g là ma túy, loại Ketamine; 24 viên nén màu trắng hình lục giác có tổng khối lượng 10,569g là ma túy, loại MDMA; 230 viên nén màu trắng hình lục giác trên có tổng khối lượng 101,419g là ma túy loại MDMA; chất rắn màu trắng trong 10 túi nilon có tổng khối lượng 7,142g là ma túy, loại Ketamine; chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 32 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 22,421g là ma túy, loại Ketamine. H lại đối tượng giám định: 0,364g ma túy loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1; 9,922g ma túy loại MDMA; 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2; 6,547g ma túy loại Ketamine; 11 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì ký hiệu M3 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T3; 96,506g ma túy loại MDMA, 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì ký hiệu M4 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong hộp bìa catton ký hiệu T4; 20,767g ma túy loại Ketamine; 33 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì ký hiệu M5 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T5.

Tại Cáo trạng số 71/CT-VKS-P1 ngày 11/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lê Quang A tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo mua số ma túy trên tại Hải Phòng về cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Bị cáo đã bán cho người tên N1 một gói Ketamine thu được 1.200.000đồng thì bị bắt quả tang. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và rất ăn năn hối hận về hành vi của mình. Bị cáo bị truy tố, xét xử là đúng, không bị oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Quang A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lê Quang A 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy do Phòng K1 - Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 05 bì thư ký hiệu từ T1 đến T5 và 01 sim điện thoại; đề nghị Công ty V thu hồi số thuê bao 0966.855.803 theo quy định; tịch thu, cho phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Lê Quang A. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo – Luật sư Chu Thanh N trình bày: đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát truy tố và luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thái độ thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối hận về hành vi của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 20/12/2023 đến ngày 04/01/2024, tại phòng trọ số 1 của ông Nguyễn Văn C1, ở khu dân cư P, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương, bị cáo Lê Quang A có hành vi tàng trữ trái phép 111,988 gam ma túy, loại MDMA và 30,005 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, Lê Quang A đang bán 0,442 gam ma túy loại Ketamine cho Lê Văn N1 và đã nhận số tiền 1.200.000 đồng thì bị Tổ công tác thuộc Cơ quan CSĐT Công an thị xã K bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ quy định của pháp luật về việc cấm mua bán trái phép các chất ma túy, bị cáo cũng biết tác hại ghê gớm của chất ma túy đối với con người và xã hội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý vì mục đích tư lợi cá nhân. Bị cáo tàng trữ để bán 02 chất ma túy, tổng số lượng các chất gồm 111,988 gam MDMA và 30,005 gam Ketamine với mục đích để bán cho người khác kiếm lời, cùng khối lượng 0,442 gam Ketamine đã bán cho N1. Số ma túy trên tương đương khối lượng chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Quang A đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thật sự ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là Liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo cũng đạt được mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 04 phong bì và 01 hộp niêm phong theo KLGĐ số 89/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H ngày 06/01/2024 chứa ma túy hoàn lại sau giám định ký hiệu T1, T2, T3, T5 và T4; 01 thẻ sim điện thoại là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Số tiền 1.200.000đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số máy MWHM2ZP/A, có số IMEI:353907101395597 là công cụ phạm tội cần tịch thu, cho phát mại sung ngân sách Nhà nước.

Đề nghị Đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi thuê bao điện thoại số 0966.855.xxx theo quy định của pháp luật về viễn thông.

[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8]. Những vấn đề khác:

[8.1]. Về nguồn gốc số ma túy: Lê Quang A khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại quận Đ, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch người bán nên không có căn cứ xem xét xử lý.

[8.2]. Đối với Lê Văn N1 mua 0,442 gam ma tuý loại Ketamine của Lê Quang A để sử dụng. Lê Văn N1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội phạm ma túy nên hành vi của N1 bị Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an tỉnh H xử phạt vi phạm hành chính ngày 17/5/2024, bằng hình thức phạt tiền là phù hợp quy định của pháp luật.

[8.3]. Đối với ông Nguyễn Văn C1 cho bị cáo Lê Quang A thuê nhà trọ, chị Bạc Thị O ở cùng bị cáo nhưng không biết bị cáo Quang A mua bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  2. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Quang A 20 năm tù (hai mươi năm tù), thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu cho tiêu hủy 04 phong bì niêm phong theo KLGĐ số 89/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H ngày 06/01/2024 chứa ma túy hoàn lại sau giám định ký hiệu T1, T2, T3 và T5; 01 hộp niêm phong theo KLGĐ số 89/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H ngày 06/01/2024 chứa ma túy hoàn lại sau giám định ký hiệu T4; 01 thẻ sim điện thoại.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.200.000đồng thu của Lê Quang A.
    • - Tịch thu, cho phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số máy MWHM2ZP/A, có số IMEI:353907101395597.
    • - Đề nghị Đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi thuê bao điện thoại số 0966.855.xxx theo quy định của pháp luật về viễn thông.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng giữa Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 20/09/2024)

  6. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quang A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQCSĐT-CA tỉnh Hải Dương;
  • - CQTHAHS - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNVCS - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quang A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger