TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2024/HS-ST Ngày 28 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Rạng Đông - Công tác tại Hội khuyến học thành phố Phú Quốc.
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang – Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 và 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn H (Hậu Con), sinh ngày 26/02/2007, tại P, Kiên Giang; nơi thường trú: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Hạnh P và bà Trần Thị Thúy L; anh chị em có 01 người sinh năm 2009; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Huỳnh Hồng H1 (Hậu Nhỏ), sinh ngày 17/01/2006, tại P, Kiên Giang; nơi thường trú: Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Huỳnh S và bà Trần Thị Thu T; anh chị em có 02 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2009; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Minh H2 (Huy C), sinh ngày 20/9/2005, tại K, Kiên Giang; nơi thường trú: Tổ B, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Minh V và bà Trương Thị Kiều D; anh chị em có 04 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2021; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Đỗ Thanh P1 (Phúc M), sinh ngày 01/01/1995, tại Bạc Liêu; nơi thường trú: Ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; con ông Đỗ Hữu H3 và bà Nguyễn Thị Thu S1; vợ Lý Thúy Q; con 01 người sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Trần Thanh N (N), sinh ngày 06/10/1992, tại P, Kiên Giang; nơi thường trú: Khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Trần Minh D1 và bà Trần Thị B; vợ Nguyễn Thị Út T1; con 01 người sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;
- Họ và tên: Trần Ngọc T2 (Cậu B1), sinh ngày 02/02/2005, tại Kiên Giang; nơi thường trú: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Không rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Trần Ngọc C1 và bà Lê Thị Mỹ L1; anh chị em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 20/10/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 20/10/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 31/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn tạm gian bằng biện pháp bão lĩnh.
Bị cáo bị bắt tạm giam giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến nay.
Về nhân thân: Ngày 28/10/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Đến ngày 01/12/2016, chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2023 đến nay.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H: Bà Trần Thị Thúy L, sinh năm 1990 và ông Nguyễn Hạnh P, sinh năm 1987(cha, mẹ của bị cáo).
Cùng trú tại: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (bà L có mặt, ông P vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Hồng H1: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1984 và ông Huỳnh S, sinh năm 1976 (cha, mẹ của bị cáo).
Cùng trú tại: Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (bà T có mặt, ông S vắng mặt).
- Người bị hại: Ông Vũ Hải Q1, sinh năm 1978
Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H và Huỳnh Hồng H1: Ông Trần Tuấn A – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 07/10/2023, Nguyễn Văn H đi bộ từ nhà trọ “Hữu Tập”, thuộc khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang về nhà mẹ của H, khi đến khu vực sân bóng đá “Anh H2” cũng thuộc khu phố D, phường A thì gặp An C2 và Q2 (chưa rõ nhân thân), An C2 cho rằng Văn H gặp không chào hỏi nên An C2 chửi và dùng chân đá vào ngực của H, thì được Q2 can ngăn. H đi bộ về phòng trọ của mình thuê ở tại phòng số 6 nhà trọ “Hữu Tập” kể lại cho Huỳnh Hồng H1 ở chung phòng trọ với Văn H nghe sự việc bị An C2 đánh và kêu Hồng H1 đi chở Nguyễn Minh H2 để chém A, Hồng H1 đồng ý, trước khi đi Hồ N đi qua phòng số 5 (nhà T) lấy 02 cây dao tự chế mang về phòng để sẵn trên bàn. Hồng H1 gọi điện thoại cho Trần Thanh N nói: “Văn Hậu bị An C2 đánh, kêu lấy dao tự chế để đi đánh An Cò trả thù”, N đồng ý. Hồng Hậu tiếp tục gọi điện thoại cho Đỗ Thanh P1 nói: “Văn Hậu bị An C2 đánh”, P1 nói “chút về rồi tính sau”. Sau đó, Hồng H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1 – 672.88 (xe của Nguyễn Thị Thùy V1) chạy đến nhà trọ “Liêm Đệ”, thuộc khu phố F, phường A để chở H2. Khi đến nơi thì Hồng H1 gặp Trần Ngọc T2 điều khiển xe mô tô chở H2 và vợ của H2 về đến nhà trọ “Liêm Đệ”. Lúc này, Hồng H1 nói với T2 và H2 “Văn Hậu bị An C2 đánh, kiếm hung khí đi chém An Cò trả thù cho H1 và kêu tập trung tại nhà trọ của Hồ N”, T2 đồng ý và trả lời sẽ đến sau, thì Hồng H1 điều khiển xe mô tô chở H2 đi về phòng trọ của mình. Khoảng 10 phút sau, T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1 – 767.50 (xe của Bùi Như Lâm T3) chạy đến phòng trọ của Hồng H1, sau đó N điều khiển mô tô biển kiểm soát 69F1 – 402.44 (xe của Doãn Anh N1) mang theo 01 cây dao tự chế khoảng 80cm (do Hồng H1 đưa) đi vào phòng trọ của Hồng H1, để trên bàn cùng với 02 cây dao của Hồng H1. Khoảng 10 phút sau, P1 và Minh T4 (chưa rõ nhân thân) điều khiển xe mô tô loại Vison (chưa rõ biển kiểm soát) chạy đến, tất cả tập trung tại phòng trọ của Hồng H1, cả nhóm rủ nhau đi tìm An C2 để chém, tất cả đồng ý. Văn Hậu lấy 01 cây dao tự chế đưa cho H2 cầm, còn lại Văn H và P1 mỗi người cầm 01 cây dao tự chế. Minh T4 điều khiển xe mô tô (chưa rõ biển kiểm soát) chạy chở Văn H cầm 01 cây dao tự chế do Hồng H1 đưa, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69F1 – 402.44 chạy chở P1 cầm 01 cây dao tự chế, Ngọc T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1 – 767.50 chạy chở H2 cầm 01 cây dao tự chế đi vào hẻm H, thuộc khu phố D, phường A, còn Hồng H1 ở nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm của Văn H đến đoạn đường giao với đường H, thuộc tổ B, khu phố D, phường A thì phát hiện Vũ Hải Q1 điều khiển xe mô tô chở Q2 (chưa rõ nhân thân) chạy trước, còn An C2 điều khiển xe mô tô chạy phía sau theo chiều ngược lại. Lúc này, Văn H cho rằng Q1 là An C2 nên nhảy xuống xe cầm dao tự chế chạy đến, Văn H kêu dừng xe lại thì Q2 nhảy xuống xe bỏ chạy, còn Q1 dừng xe lại và ngồi trên xe nên Văn H cầm dao 02 tay chém từ trên xuống 01 nhát vào tay phải của Q1 gây thương tích, Văn H vẫn tiếp tục cầm dao chém thêm 02 nhát trúng vào tay phải của Q1 bị thương, Minh T4 điều khiển xe mô tô chặn đầu xe của Q1 lại, T4 và H2 nghĩ rằng Văn H chém An C2 nên dừng xe để H2 cầm dao xuống xe đứng chặn ở đầu hẻm, còn N dừng xe để cho P1 xuống xe cầm dao chạy đến chém, P1 nghĩ rằng là An C2 nên cầm dao chạy đến để chém, nhưng khi chạy đến nhìn không phải An C2 nên P1 không chém, P1 la lên “chém lầm rồi” nên Văn H ngừng chém, sau khi bị chém Q1 ôm tay bỏ chạy ra đầu đường, còn An C2 điều khiển xe bỏ chạy, P1 la lên “An Cò kìa” thì cả nhóm rược theo An Cò để chém, nhưng không chém được, sau đó cả nhóm giải tán đi về, Văn H và P1 cầm dao về phòng trọ của mình cất giấu. Sau khi sự việc xảy ra, anh Q1 được người dân đưa đến Trung tâm Y tế thành phố P điều trị. Từ ngày 10/10/2023 đến ngày 26/11/2023, lần lượt T4, Văn H, Hồng H1, H2, N và P1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú. Từ ngày 19/10/2023 đến ngày 23/02/2024, lần lượt Nguyễn Minh H2, Trần Ngọc T2, Nguyễn Văn H, Huỳnh Hồng H1, Trần Thanh N và Đỗ Thanh P1 bị khởi tố và bắt tạm giam T2, H2, N, P1 đối với Văn H và Hồng Hậu bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Vật chứng thu giữ gồm:
- + 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, 64GB, màu trắng, số Imei 1: 356733080813831; số Imei 2: 35673308081383 (tạm giữ của Huỳnh Hồng H1);
- + 01 áo khoác có dây kéo khóa, bằng vải, màu đen, có nón trùm đầu. Trên áo có in dòng chữ “adidas” màu trắng, cánh tay áo có 3 sọc màu trắng, đã qua sử dụng;
- + 01 nón kết màu xám đỏ (kiểu nón ông địa), đã qua sử dụng;
- + 01 USB chứa video quay lại cảnh Nguyễn Minh H2 cầm dao rượt theo A để chém (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án).
- Đối với 03 cây dao tự chế do Nguyễn Văn H, Nguyễn Minh H2 và Đỗ Thanh P1 sử dụng làm hung khí chém Vũ Hải Q1, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm gặp.
- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 76C1 – 672.88, xe mô tô biển kiểm soát 68P1 – 767.50 và xe mô tô biển kiểm soát 69F1 – 402.44, chủ sở hữu không có lỗi trong việc giao cho các bị can điều khiển thực hiện hành vi phạm tội, nên không xử lý.
- Đối với xe mô tô chưa rõ biển kiểm soát do Minh T4 điều khiển chở đi thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 883/KLTTCT-PY ngày 20/11/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh K thì thương tích của Vũ Hải Q1 được kết luận như sau:
- 1. Các kết quả chính:
- - Kết quả chính qua giám định:
- + Vết thương phần mềm 1/3 trên cẳng tay phải (vết 1);
- + Vết thương 1/3 dưới cẳng tay phải (vết 2) gây đứt bó gân cơ gấp nông sâu các ngón, gân gấp cổ tay trụ, gân cơ gan tay nông sâu, gãy (đứt) 1/3 dưới xương trụ, đứt động mạch trụ đã được phẫu thuật khâu nối gân, thắt động mạch trụ, kết hợp xương. Hiện tại xương chưa liền, còn dùng dụng cụ kết hợp xương.
- - Kết quả cận lâm sàng: Gãy 1/3 dưới xương trụ, xương chưa liền.
- 2. Kết luận:
- 2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Hải Q1 tại thời điểm giám định là: 19% (Mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- 2.2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.
- 2.3. Về cơ chế hình thành thương tích:
- - Thương tích ở 1/3 trên cẳng tay phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu của cơ thể.
- + Thương tích ở 1/3 dưới cẳng tay phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ bờ xương trụ sang xương quay cẳng tay phải.
Theo Cáo trạng số: 63/CT-VKSPQ ngày 04/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Minh H2, Trần Ngọc T2, Huỳnh Hồng H1, Trần Thanh N và Đỗ Thanh P1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trần Thanh N đã bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 18.250.000đ.
- Bị cáo Huỳnh Hồng H1 đã bồi thường, khắc phục hậu quả thêm số tiền 10.000.000đ. Tổng cộng bị cáo đã khắc phục được 15.250.000đ.
- Bị cáo Trần Ngọc T2 đã bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 10.000.000đ.
- Bị cáo Đỗ Thành P2 đã bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 10.000.000đ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hồng H1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T2 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh P1 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đối với tên Minh T4 có hành vi cố ý gây thương tích nhưng chưa rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Thùy V1 và Bùi Như Lâm T3 không có lỗi trong việc giao xe mô tô cho các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên không xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, 64GB, màu trắng, số Imei 1: 356733080813831; số Imei 2: 35673308081383 (tạm giữ của Huỳnh Hồng H1);
- + Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác có dây kéo khóa, bằng vải, màu đen, có nón trùm đầu. Trên áo có in dòng chữ “adidas” màu trắng, cánh tay áo có 3 sọc màu trắng, đã qua sử dụng;
- + 01 nón kết màu xám đỏ (kiểu nón ông địa), đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo và bị hại đồng ý bồi thường cho bị hại như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường 20.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong. Bị cáo Trần Thanh N phải bồi thường 18.125.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong. Bị cáo Huỳnh Hồng H1 phải bồi thường 18.250.000đ, bị cáo đã bồi thường được 15.250.000đ còn phải tiếp tục bồi thường 3.000.000đ. Bị cáo Trần Ngọc T2 phải bồi thường 18.250.000đ, bị cáo đã bồi thường được 10.000.000đ còn phải tiếp tục bồi thường 8.250.000đ. Bị cáo Đỗ Thanh P1 phải bồi thường 30.000.000đ, tuy nhiên tại phiên tòa người bị hại chỉ yêu cầu bị cáo P1 bồi thường 20.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 10.000.000đ còn phải tiếp tục bồi thường 10.000.000đ. Bị cáo Nguyễn Minh H2 phải bồi thường 18.250.000đ.
* Quan điểm bào chữa của ông Trần Tuấn A bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn H và Huỳnh Hồng H1: Thống nhất với bản cáo trạng về tội danh cho bị cáo Văn H và Hồng H1. Tuy nhiên, về đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS cho bị cáo Văn H thì không thống nhất. Vì thời điểm này bị cáo Văn H cũng là người chưa thành niên đồng thời, bị cáo Văn H chỉ rủ rê bị cáo Hồng H1 chứ chưa tới mức xúi giục, nên đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng này cho bị cáo. Hai bị cáo Văn H và Hồng H1 đều là người chưa thành niên nên nhận thức, am hiểu pháp luật còn hạn chế, hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại cũng xin giảm nhẹ cho hai bị cáo, gia đình hai bị cáo khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 BLHS, để xử phạt hai bị cáo mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra viên Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyên, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hai không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Hồng H1, Nguyễn Minh H2, Trần Ngọc T2, Trần Thanh N và Đỗ Thanh P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trang đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng chứng cứ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ, ngày 07/10/2023, bị cáo Nguyễn Văn H kêu bị cáo Huỳnh Hồng H1 rủ bị cáo Nguyễn Minh H2 đi chém A, vì An C2 đánh bị cáo Nguyễn Văn H. Sau đó, bị cáo Huỳnh Hồng H1 rủ các bị cáo Nguyễn Minh H2, Trần Thanh N, Trần Ngọc T2, Đỗ Thanh P3 và tên Minh T4 (chưa rõ nhân thân) đi chém An Cò thì tất cả đều đồng ý. H4 Hậu cung cấp 02 cây dao tự chế. N mang theo 01 cây dao tự chế. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại tổ B, khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Minh H2, Trần Thanh n, Trần Ngọc T2, Đỗ Thanh P3 và tên Minh T4 dùng dao chém Vũ Quang H5, (vì hiểu lầm H5 là An C2) gây thương tích tỷ lệ 19%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ, được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố các bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng không có sự phân công chặt chẽ với nhau nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn H sau khi bị An C2 chửi và dùng chân đá vào ngực thì được căn ngăn, bị cáo đi về, sự việc đã chấm dứt nhưng bị cáo lại có ý định trả thù, xúi giục, rủ rê các bị cáo còn lại để tìm An C2 đánh trả thù. Bị cáo trực tiếp cầm theo 01 cây dao tự chế (do Hồng H1 giao) cùng các bị cáo khác để tìm An C2 chém, khi đến nơi phát hiện Vũ Quang H5, tưởng là An C2 nên bị cáo nhảy xuống xe dùng dao tự chế cầm 02 tay chém từ trên xuống một nhát vào tay phải của Q1 và tiếp tục chém thêm 02 nhát vào tay phải của Q1 gây thương tích 19%. Vai trò của bị cáo trong vụ án là rủ rê và còn trực tiếp thực hiện hành vi chém bị hại gây thương tích, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.
[3.2] Đối với bị cáo Huỳnh Hồng H1 sau khi nghe Nguyễn Văn H kể lại sự việc bị An C2 đánh và kêu tập họp các bị cáo khác đánh trả thù, thì bị cáo đồng ý. Tuy bị cáo không tham gia đánh nhưng bị cáo dùng điện thoại gọi cho Nguyễn Minh H2, Trần Ngọc T2 cho biết Nguyễn Văn H bị đánh. H2, T2 mang theo 02 cây dao tự chế đến để trong phòng trọ bị cáo thuê nên bị cáo vào phòng lấy 02 cây dao ra để trên bàn để chuẩn bị đi đánh An Cò. Bị cáo là người đã cung cấp hung khí, giúp sức tích cực cho các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm với vai trò là đồng phạm đứng thứ hai trong vụ án.
[3.3] Đối với các bị cáo Nguyễn Minh H2, Trần Thanh N, Trần Ngọc T2 và Đỗ Thanh P1 khi được Nguyễn Văn H kêu Huỳnh Hồng H1 điện thoại tập hợp để đánh trả thù, thì các bị cáo đồng ý, tìm hung khí chạy xe mô tô cùng Văn H tìm An Cò trả thù, việc chém nhằm là ngoài ý muốn các bị cáo. Tuy các bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho người bị hại nhưng các bị cáo đã giúp sức và cùng với bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện hành vi phạm tội, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm còn lại trong vụ án này.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H là người xúi giục bị cáo Huỳnh Hậu H1 chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội các bị cáo ra đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo. Riêng các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Thanh N đã bồi thường toàn bộ hậu quả. Bị cáo Huỳnh Hồng H1 đã bồi thường được 15.250.000đ, bị cáo Trần Ngọc T2 và Đỗ Thanh P1 đã bồi thường được 10.000.000đ nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo này.
Riêng bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Hùng H6 khi phạm tội hai bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với hai bị cáo.
[5] Đối với tên Minh T4 có hành vi cố ý gây thương tích nhưng chưa rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P tiếp tục điều tra xử lý sau.
[6] Đối với Nguyễn Thị Thùy V1 và Bùi Như Lâm T3 không có lỗi trong việc giao xe mô tô cho các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên không xử lý.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà người bị hại và các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận được mức bồi thường như sau: Bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường 20.000.000đ, bị cáo đã bồi thường xong. Bị cáo Huỳnh Hồng H1 phải bồi thường 18.125.000đ, bị cáo đã bồi thường được 15.250.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường 3.000.000đ. Bị cáo Trần Ngọc T2 phải bồi thường 18.125.000đ bị cáo đã bồi thường được 10.000.000đ còn phải tiếp tục bồi thường 8.250.000đ. Bị cáo Trần Thanh N phải bồi thường 18.125.000đ bị cáo đã bồi thường xong. Riêng bị cáo Đỗ Thanh P1 trước đây yêu cầu bồi thường 30.000.000đ, nhưng tại phiên tòa bị hại chỉ yêu cầu P1 bồi thường 20.000.000đ bị cáo đã bồi thường được 10.000.000đ còn phải tiếp tục bồi thường 10.000.000đ.
Đối với bị cáo Nguyễn Minh H2, tại phiên tòa bị cáo khai rằng gia đình bị cáo đã thay bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 9.000.000đ nhưng bị cáo không cung cấp được biên nhận hoặc chứng cứ để chứng minh và người bị hại cũng không thừa nhận đã nhận tiền bồi thường của bị cáo nên không có cơ sở xem xét. Nên buộc bị cáo H2 phải bồi thường cho người bị hại số tiền 18.250.000đ.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, 64GB, màu trắng, số Imei 1: 356733080813831; số Imei 2: 35673308081383 (tạm giữ của Huỳnh Hồng H1) là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 áo khoác có dây kéo khóa, bằng vải, màu đen, có nón trùm đầu. Trên áo có in dòng chữ “adidas” màu trắng, cánh tay áo có 3 sọc màu trắng, đã qua sử dụng; 01 nón kết màu xám đỏ (kiểu nón ông địa), đã qua sử dụng là vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu huỷ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Huỳnh Hồng H1 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 300.000đ. Bị cáo P1 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 500.000đ. Bị cáo T2 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 412.500đ. Bị cáo H2 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 912.500đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H (H) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (H) 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 20/10/2023.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hồng H1 (H) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (H) 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 20/10/2023.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H2 (H) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H2 (H) 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 31/01/2024.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh P1 (P) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thanh P1 (Phúc Mập) 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N (N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh N (N) 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/11/2023.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T2 (Cậu Ba) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T2 (Cậu Ba) 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 8 Plus, 64GB, màu trắng, số Imei 1: 356733080813831; số Imei 2: 35673308081383 (tạm giữ của Huỳnh Hồng H1).
Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác có dây kéo khóa, bằng vải, màu đen, có nón trùm đầu. Trên áo có in dòng chữ “adidas” màu trắng, cánh tay áo có 3 sọc màu trắng, đã qua sử dụng; 01 nón kết màu xám đỏ (kiểu nón ông địa), đã qua sử dụng.
(Tất cả vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/5/2024).
3. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường xong số tiền 20.200.000 đồng.
Bị cáo Trần Thanh N đã bồi thường xong số tiền 18.125.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Hồng H1 đã bồi thường được 15.250.000 đồng, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại ông Vũ Hải Q1 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Bị cáo Đỗ Thanh P1 đã bồi thường được 10.000.000 đồng, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại ông Vũ Hải Q1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Bị cáo Trần Ngọc T2 bồi thường được 10.000.000 đồng, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại ông Vũ Hải Q1 số tiền 8.125.000 đồng (Tám triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Minh H2 phải bồi thường cho người bị hại ông Vũ Hải Q1 số tiền 18.250.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Riêng bị cáo Huỳnh Hồng H1 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bị cáo Đỗ Thanh P1 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Bị cáo T2 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 412.500 đồng (Bốn trăm mười hai nghìn năm trăm đồng). Bị cáo H2 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 912.500 đồng (Chín trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H, người bào chữa của bị cáo Nguyễn Văn H, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Bình |
Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 78/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Hậu và đồng bọn
