|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/9/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông RChâm Đương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Rơ Lan H; địa chỉ: Làng C, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Siu H1; địa chỉ: Làng C, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Siu U; địa chỉ: Làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Rơ Lan H và ông Siu H1 xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/2003 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn, bà H và ông H1 chung sống hạnh phúc tại xã L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng năm 2006 giữa bà Rơ Lan H và bà Siu H1 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Siu H1 thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu, mỗi lần say xỉn về nhà mắng chửi và đánh đập vợ, con. Ngoài ra, ông Siu H1 cũng không tìm việc làm để có thu nhập hoặc phụ giúp công việc gia đình nên vào năm 2021 bà H đã nhờ tổ hòa giải thôn, làng can thiệp giải quyết, ông Siu H1 cam kết sẽ bỏ rượu và không đánh đập, mắng chửi vợ con nữa nhưng thời gian sau đó ông Siu H1 không thực hiện theo đúng cam kết. Hiện nay, bà Rơ Lan H không còn tình cảm và không muốn tiếp tục quan hệ hôn nhân với ông Siu H1 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Rơ Lan H được ly hôn với ông Siu H1.
- Về con chung: Bà Rơ Lan H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên là Rơ Lan T, sinh ngày 12/9/2008. Bà Rơ Lan H không yêu cầu ông Siu H1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà Rơ Lan H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn là ông Siu H1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt theo yêu cầu triệu tập của Tòa án nên chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Rơ Lan H và ông Siu H1 đều đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện đăng ký kết hôn và chung sống cùng nhau nên hôn nhân hợp pháp. Do mâu thuẫn xảy ra trong đời sống hôn nhân, bà H muốn ly hôn với ông H1 để chấm dứt quan hệ hôn nhân nên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Làng C, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu giải quyết về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn với bị đơn, ngoài ra không yêu cầu nội dung nào khác nên quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng đã vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện: Sau khi kết hôn, bà Rơ Lan H và ông Siu H1 chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H1 không có trách nhiệm trong việc tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập để chăm lo, xây dựng hạnh phúc gia đình mà thường xuyên uống rượu, lúc say sưa đã chửi mắng, đánh đập bà H nên xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù đã được thôn, làng tổ chức hòa giải và ông H1 cam kết sẽ từ bỏ các hành vi trên nhưng chỉ được một thời gian lại tiếp tục có lối sống như trên nên bà H đã sống ly thân với ông H1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thông báo, tống đạt văn bản tố tụng cho ông H1 nhưng bị đơn không tham gia tố tụng để trình bày ký kiến, yêu cầu và tham gia hòa giải mâu thuẫn vợ chồng để được đoàn tụ. Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, cho thấy các bên không còn mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Rơ Lan H về việc ly hôn với ông Siu H1.
[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung:
Bà H và ông H1 đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Tòa án thể hiện, ông H1 là người thường xuyên uống rượu say sưa, chửi mắng đánh đập bà H nên xảy ra mâu thuẫn hôn nhân. Từ khi bà H và ông H1 không còn chung sống, cháu Rơ Lan T được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đã ổn định môi trường sống. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H1 cũng không phản đối hoặc đưa ra yêu cầu về nuôi con với nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, giao cháu Rơ Lan T, sinh ngày 12/9/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, Bà Rơ Lan H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản:
Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Rơ Lan H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Rơ Lan H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Rơ Lan H và ông Siu H1.
- Về con chung: Giao cháu Rơ Lan T, sinh ngày 12/9/2008 cho bà Rơ Lan H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Bà Rơ Lan H và ông Siu H1 đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Bà Rơ Lan H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009661 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vũ |
Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Rơ Lan Hlơng - Siu Hyui
