Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27- 8 - 2024

“V/v chị Huyền ly hôn anh Điểm”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Văn Quang
Bà Trần Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Bùi Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh ngày 28/02/1990.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố số B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện đang cư trú tại Cộng hòa P. Vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh ngày 20/01/1990.

Nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh ngày 23/6/1966.

Nơi cư trú: Tổ dân phố số B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai nguyên đơn trình bày:

Chị Bùi Thị H và anh Hoàng Văn Đ có thời gian tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc thời gian 3 năm đầu sau đó thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Hoàng Chấn P, sinh ngày 06/9/2016. Hiện nay cháu P sống chung với bà ngoại là Nguyễn Thị H1. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Do chị H đang ở Cộng hoà Philippines nên chị uỷ quyền cho mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị H1 nuôi cháu P cho đến khi chị về nước.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết.

Anh Hoàng Văn Đ mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung: Xử cho ly hôn giữa chị H và anh Đ. Giao cho chị H được trực tiếp nuôi con chung là Hoàng Chấn P, sinh ngày 06/9/2016. Do chị H đang ở Cộng hoà Philippines nên giao cho mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị H1 nuôi cháu P. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Án phí: chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Chị H, bà H1 đều đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, đây là hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn và hai người đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Thực tế tình trạng vợ chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị H và anh Đ được ly hôn.

[3] Về con chung: Anh Đ và chị H có 01 con chung Hoàng Chấn P, sinh ngày 06/9/2016. Hiện nay cháu P sống chung với bà ngoại là Nguyễn Thị H1. Chị H đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Do chị H đang ở Cộng hoà Philippines nên chị uỷ quyền cho mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị H1 nuôi cháu P. Cháu P có nguyện vọng được ở cùng mẹ và bà ngoại, bà H1 đồng ý nhận nuôi cháu P cho đến khi chị H về nước nên giao cho chị H được quyền trực tiếp nuôi cháu P. Trong thời gian chị H ở nước ngoài nên giao cháu P cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này anh Đ có yêu cầu về tài sản sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

[5] Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

  1. Xử cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Hoàng Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cho chị H được quyền trực tiếp nuôi con là Hoàng Chấn P sinh ngày 06/9/2016. Trong thời gian chị H ở nước ngoài, giao cháu P cho bà Nguyễn Thị H1 (là mẹ đẻ chị H và được chị H uỷ quyền nuôi cháu P) trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
  3. Án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định theo biên lai số 0005752 ngày 07 tháng 6 năm 2024. Chị H đã nộp xong án phí ly hôn.
  4. Trong thời hạn 15 ngày chị Bùi Thị H, anh Hoàng Văn Đ, bà Nguyễn Thị H1 có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6,7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Công

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Yên Đồng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger