Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOẰNG HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HS-ST

Ngày 26 – 12 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bỉnh Quyền

Bà Lường Thị Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn C, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1990 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H và bà Đoàn Thị N; Vợ con: Chưa có. Tiền án: 01 tiền án: Ngày 06/5/2021, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 04/3/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/9/2023, chuyển tạm giam ngày 14/9/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn H1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1989 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị T (đã chết); Đã ly hôn vợ và có 02 con: Lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 17/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 25/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 07/8/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/9/2023, chuyển tạm giam ngày 14/9/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Ông Nguyễn Thế H2, sinh năm 1969 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị L, sinh năm 1975 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 10/9/2023, Lê Văn C điều khiển xe mô tô BKS 36M9-4151 rủ Nguyễn Văn H1 đi trộm cắp tài sản. H1 điều khiển xe chở C đi đến trang trại nuôi ngan của ông Nguyễn Thế H2 thuộc thôn Đ xã H, thấy không có người trông coi, C và H1 nhặt 01 cái bì và 01 sọt nhựa bên đường, điều khiển xe đến cổng trang trại, đuổi bắt được 05 con ngan và 01 con vịt, bỏ vào bì và sọt nhựa. Cả hai vận chuyển số ngan, vịt trộm cắp được đến thôn X, xã H bán cho bà Cao Thị L số ngan vịt (cân được tổng 16 kg) với số tiền là 800.000đ. Sau đó, H1 tiếp tục điều khiển xe chở C quay lại trang trại của ông H2 trộm cắp thêm. Trên đường đi Công nhặt 02 chiếc bì, khi đến trang trại Công trèo qua cổng, H1 đứng ngoài đưa bì cho C và cảnh giới. C đi vào chuồng ngan bên trái trang trại bắt 18 con ngan bỏ vào 02 bì rồi xách ra ngoài đưa cho H1 bỏ lên xe. Cả hai đi đến nhà bà Cao Thị L bán 15 con ngan cân được 24kg với giá 1.200.000đ còn 03 con ngan bị chết nên bà L bỏ vào bao tải và vứt cùng với bì và thùng nhựa vào xe chở rác. Tổng số tiền bán được trong 02 lần trộm cắp là 2.000.000đ. Số tiền trên C và H1 đã cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất trộm ngan, vịt, ông Nguyễn Thế H2 đã đến Công an xã H báo cáo sự việc. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên 10 giờ 35 phút, ngày 11/9/2023 Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 đã đến Công an xã H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá số 28/KL-TTHS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: 20 con ngan lông màu trắng có tổng trọng lượng 37,5kg trị giá 2.625.000đ; 01 con vịt lông màu trắng có trọng lượng 2,5kg trị giá 175.000đ.

Ngày 24/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã có văn bản số 557/CV-ĐTTH đề nghị Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện H xác định khối lượng của 03 con ngan đã bị chết do Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 đã trộm cắp được của gia đình ông Nguyễn Thế H2 ngày 10/9/2023. Ngày 27/10/2023, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện H có văn bản số 37/NNPTNT-CN xác định trọng lượng của 03 con ngan bị chết xác định trong khoảng từ 1,8 kg đến 2,1kg/1 con. Tại Bản kết luận định giá số 38/KL-TTHS ngày 03/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: 03 con ngan lông màu trắng có tổng khối lượng 5,4kg trị giá 378.000đ.

Tổng giá trị ngan, vịt mà Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 trộm cắp của gia đình ông Nguyễn Thế H2 là 3.178.000đ.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ tại nhà bà Cao Thị L 20 con ngan, lông màu trắng có tổng trọng lượng 37,5 kg và 01 con vịt lông màu trắng có trọng lượng 2,5kg, đã trả lại cho ông Nguyễn Thế H2; 03 con ngan trắng bị chết, 01 sọt nhựa và 03 bao tải xác rắn Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 sử dụng để đựng ngan, vịt trộm cắp, bà Cao Thị L đã bỏ vào xe chở rác. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu được vật chứng. Ông H2 không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và không yêu cầu nhận lại 03 con ngan đã chết.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE S, BKS: 36M9-4151; Số máy: HC09E6667508; Số khung: RLHHC09047Y847788; Màu sơn: Đen xám, Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 sử dụng đi trộm cắp tài sản là xe Lê Văn C mua lại từ anh Cao P ở thôn T, Q, thành phố S. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành tra cứu xác định xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.

Về dân sự: Ông Nguyễn Thế H2 không có yêu cầu về dân sự; bà Cao Thị L yêu cầu Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 phải trả lại số tiền 2.000.000đ mà bà L đã trả cho C và H1 khi mua ngan, vịt.

Bản Cáo trạng số 05/CTr-VKSHH ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 15 Đến 18 tháng tù; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 30 Đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc các bị cáo phải liên đới trả lại cho bà Cao Thị L số tiền 2.000.000đ, trong đó mỗi bị cáo phải có trách nhiệm trả cho bà L 1.000.000đ.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE S, BKS: 36M9-4151; Số máy: HC09E6667508; Số khung: RLHHC09047Y847788; Màu sơn: Đen xám.

Về án phí: Đề buộc các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và tội danh: Từ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng kết quả định giá tài sản của Cơ quan định giá tài sản trong tố tụng hình sự đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 các bị cáo đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Thế H2 với tổng giá trị tài sản là 3.178.000đ. Trong đó, lần thứ nhất các bị cáo trộm cắp tài sản là 5 con ngan và 01 con vịt, tổng trọng lượng 16kg (vịt 2,5kg và ngan 13,5kg), trị giá 1.120.000đ (dưới 2.000.000đ); lần thứ hai, các bị cáo trộm cắp tài sản là 18 con ngan, tổng trọng lượng 29,4kg, trị giá 2.050.800đ (trên 2.000.000đ). Hành vi của Lê Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn H1 có hai tiền án, tại lần phạm tội trước đã bị áp dụng tình tiết “tái phạm” nên hành vi của Nguyễn Văn H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự, trị an, an toàn xã hội, thể hiện rõ sự coi thường pháp luật của các bị cáo. Do đó cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Xét tính chất đồng phạm: Các bị cáo là đồng phạm trong thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, sự đồng phạm của các bị cáo không có sự tổ chức và cấu kết chặt chẽ, chỉ là đồng phạm giản đơn.

[4]. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Văn C phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn H1 phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo đã ra đầu thú về hành vi của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về dân sự:

Bị hại ông Nguyễn Thế H2 không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị L mua lại tài sản từ C và H1 mà không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Việc giao dịch mua bán giữa bà L và các bị cáo vi phạm quy định của pháp luật nên giao dịch đó không có hiệu lực. Bà L đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp nên có quyền yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền bà đã mua ngan vịt. Các bị cáo cần phải liên đới trả lại cho bà Cao Thị L số tiền 2.000.000đ, trong đó mỗi bị cáo phải trả cho bà L 1.000.000đ.

[7]. Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô do nhãn hiệu Honda WAVE S, BKS: 36M9-4151; Số máy: HC09E6667508; Số khung: RLHHC09047Y847788 là phương tiện các bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản, thuộc sở hữu của bị cáo Lê Văn C nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 48 của Bộ luật hình sự đối với Lê Văn C;

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 48 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H1;

Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 122, 123, 131, 280, 288 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn C và Nguyễn văn H3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (11/9/2023);

Bị cáo Nguyễn Văn H1 30 (Ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (11/9/2023);

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lê Văn C và Nguyễn Văn H1 phải liên đới trả lại cho bà Cao Thị L số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), trong đó mỗi bị cáo phải trả cho cho bà L 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Về vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Chiếc xe mô tô do nhãn hiệu Honda WAVES, BKS: 36M9-4151; Số máy: HC09E6667508; Số khung: RLHHC09047Y847788 hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11/BBGN ngày 29/11/2023.

Về án phí: Các bị cáo Lê Văn Cvà Nguyễn Văn H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND huyện Hoằng Hóa;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa;

- Cơ quan THA hình sự huyện Hoằng Hóa;

- Công an huyện Hoằng Hóa;

- Các bị cáo; Bị hại;

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;

- UBND xã Hoằng Hải; UBND xã Hoằng Phụ

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C và đồng phạm bị truy tố, xét xử, tuyên bố phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger