TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 78/2023/HS-ST Ngày: 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hữu Bình;
- Ông Bùi Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử công khai dưới hình thức trực tuyến với điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Nhà tạm giữ Công an huyện D để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Công H, sinh năm 1994; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Phát C, sinh năm 1961 (đã chết); con bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1969; bị cáo có 02 em; bị cáo chưa có vợ, con.
Về tiền án: Ngày 17/9/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 139/2015/HSST, đến ngày 13/12/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích do chưa bồi thường thiệt hại.
2
Về tiền sự: Ngày 16/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 309/QĐ-TA, đến ngày 20/12/2022 thì chấp hành xong (chưa đủ thời hạn xóa tiền sự).
Về nhân thân:
Ngày 23/6/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 179/2011/HS-ST, đến ngày 04/10/2012 thì chấp hành xong hình phạt tù, ngày 27/6/2011 ông Nguyễn Phát C (cha ruột của bị cáo) đã đóng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định (đã xóa án tích).
Ngày 04/7/2019, bị Tòa án Quân sự khu vực 2 – Quân khu G tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 06/2019/HS-ST, đến ngày 18/02/2021 thì chấp hành xong hình phạt tù, ngày 21/8/2019 ông Nguyễn Phát C (cha ruột của bị cáo) đã đóng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định (đã xóa án tích).
Bị cáo bị bắt ngày 06/6/2023 và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D; bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Hữu T – Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện D tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Công H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020. Nguyễn Công H là bạn của đối tượng tên L (không rõ nhân thân, lai lịch). Hận được L giới thiệu thường bán chất ma túy tại khu vực chợ Đ thuộc thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên khi H có nhu cầu mua ma túy để sử dụng thì đi đến khu vực này để mua ma túy của L.
Ngày 05/6/2023, H đi đến khu vực chợ Đ để gặp đối tượng tên L để mua ma túy đá với giá 300.000 đồng và cất giữ trong người. Đến chiều cùng ngày, H đi đến nhà trọ Cường L1 có địa chỉ tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương để thuê 01 phòng trọ để ở và tìm việc làm. Ngày 06/6/2023, H lấy ma túy ra sử dụng một ít, số còn lại H cất giấu trong gối nằm tại phòng trọ. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/6/2023, khi H đang ngủ thì Công an xã L, huyện D đến kiểm tra lưu trú và phát hiện ma túy nên tiến hành bắt giữ H cùng tang vật gồm: 01 túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chưa tinh thể màu trắng, vật chứng được niêm phong trong một bì thư dán kín có chữ ký của cán bộ niêm phong Trần Văn T1, ông Đoàn Anh N – Phó Trưởng Công an xã L, người chứng kiến
3
Nguyễn Công H, hình dấu đỏ của Công an xã L; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (gồm 01 vỏ chai nhựa có phần nắp đậy màu xanh lá, bên trong chai nhựa có chứa nước, 01 cái ống hút bằng nhựa màu trắng, xanh lá, 01 ống bằng thủy tinh đã bị nứt vỡ phần đầu); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, màu đỏ đen trắng, biển số 48B1-157.60, số khung RLCN1DB10CY099467, số máy 1DB1099473, dung tích xinh lanh 124 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen, số IMEI (khe 1) 35796610288419, số IMEI (khe 2) 357967102884417 kèm theo sim V có số seri 840122055027996IDE và sim V có số seri 8984048000900762909.
Tại Kết luận giám định số 314/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng/trọng lượng là: 0,5515 gam.
Tại Cáo trạng số 75/CT-VKSDT ngày 08/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì thư được niêm phong ghi số: 314/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Trần Văn T1, ông Đoàn Anh N – Phó Trưởng Công an xã L, hình dấu đỏ của Công an xã L và giấy niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Công H, Cán bộ trả mẫu Nhan T, Cán bộ nhận mẫu Đặng Hải S và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, khối lượng sau giám định 0,5033 gam; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (gồm 01 vỏ chai nhựa có phần nắp đậy màu xanh lá, bên trong chai nhựa có chứa nước, 01 cái ống hút bằng nhựa màu trắng, xanh lá, 01 ống bằng thủy tinh đã bị nứt vỡ phần đầu). Xét thấy, đây là vật chứng của vụ án nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen, số IMEI (khe 1) 357966102884419, số IMEI (khe 2) 357967102884417 kèm theo sim V có số seri 840122055027996IDE và sim V có số seri 8984048000900762909. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp nên đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Công H.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, màu đỏ đen trắng, biển số 48B1-157.60, số khung RLCN1DB10CY099467, số máy 1DB1099473,
4
dung tích xinh lanh 124 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do ông Phan Duy L2, sinh năm 1963, cư trú tại thôn P, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đăk Nông đứng tên chủ sở hữu. Năm 2017, ông L2 đưa xe mô tô trên cho con gái là Phan Thanh T2, sinh năm 1996, cư trú tại tại thôn P, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đăk Nông sử dụng để đi học tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị mất trộm tại phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy đây là tang vật trong vụ án khác, ngày 14/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã có công văn số 205/CSĐT-CSKTMT về việc phối hợp điều tra với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với đối tượng tên L, quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Công H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm quay trở về với gia đình làm người công dân tốt, có ích cho xã hội. Bị cáo hứa sẽ không tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nữa và sẽ tham gia phòng chống ma túy với chính quyền địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Vào lúc khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/6/2023, tại tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,5515 gam ma túy, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Tại Kết luận giám định số 314/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng/trọng lượng là: 0,5515 gam. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bản Cáo trạng số 75/CT-VKSDT ngày 08/11/2023 của
5
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Nguyễn Công H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức để biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.
[4] Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 309/QĐ-TA ngày 16/6/2021 (đến ngày 20/12/2022 thì chấp hành xong), đến thời điểm phạm tội thì chưa được xoá tiền sự; Ngày 23/6/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản theo Bản án số 179/2011/HS-ST (đã xóa án tích); ngày 04/7/2019, bị Tòa án Quân sự khu vực 2 – Quân khu G xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 06/2019/HS-ST (đã xóa án tích). Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình mà nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý bị cáo nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm có điều kiện để giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt cho xã hội.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng: Ngày 17/9/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 139/2015/HSST, đến ngày 13/12/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa bồi thường thiệt hại. Do đó, bị cáo chưa chấp hành xong Bản án số 139/2015/HSST ngày 17/9/2015 nêu trên nên không thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự và được hướng dẫn, giải đáp tại Mục 7 phần I (Về hình sự) tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
6
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[7.1] Đối với số ma tuý được đựng trong 01 bì thư được niêm phong ghi số: 314/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Trần Văn T1, ông Đoàn Anh N – Phó Trưởng Công an xã L, hình dấu đỏ của Công an xã L và giấy niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Công H, Cán bộ trả mẫu Nhan T, Cán bộ nhận mẫu Đặng Hải S và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, khối lượng sau giám định là 0,5033 gam; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (gồm 01 vỏ chai nhựa có phần nắp đậy màu xanh lá, bên trong chai nhựa có chưa nước, 01 cái ống hút bằng nhựa màu trắng, xanh lá, 01 ống bằng thủy tinh đã bị nứt vỡ phần đầu). Xét thấy, đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, số IMEI (khe 1) 357966102884419, số IMEI (khe 2) 357967102884417 kèm theo sim V có số seri 840122055027996IDE và sim V có số seri 8984048000900762909. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho Nguyễn Công H.
[7.3] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, màu đỏ đen trắng, biển số 48B1-157.60, số khung RLCN1DB10CY099467, số máy 1DB1099473, dung tích xinh lanh 124 đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Phan Duy L2 đứng tên chủ sở hữu. Năm 2017, ông L2 đưa xe mô tô trên cho con gái là chị Phan Thanh T2 sử dụng để đi học tại thành phố T và bị mất trộm tại phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy đây là tang vật trong vụ án khác, ngày 14/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã có công văn số 205/CSĐT-CSKTMT về việc phối hợp điều tra với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh nên không xử lý trong vụ án này. Đồng thời, Toà án cũng không đưa ông Phan Duy L2 và chị Phan Thanh T2 tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[8] Đối với đối tượng tên L, quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[9] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo H về phần tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt cũng như đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Công H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, các Điều 38, 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
7
Căn cứ vào Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 299; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/6/2023.
- Về vật chứng.
2.1. Tịch thu tiêu huỷ đối với:
01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 314/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Trần Văn T1, ông Đoàn Anh N – Phó Trưởng Công an xã L, hình dấu đỏ của Công an xã L và giấy niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Công H, Cán bộ trả mẫu Nhan T, Cán bộ nhận mẫu Đặng Hải S và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma tuý sau khi giám định có khối lượng là 0,5033 gam.
01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (gồm 01 vỏ chai nhựa có phần nắp đậy màu xanh lá, bên trong chai nhựa có chưa nước, 01 cái ống hút bằng nhựa màu trắng, xanh lá, 01 ống bằng thủy tinh đã bị nứt vỡ phần đầu).
2.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Công H: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen, số IMEI (khe 1) 357966102884419, số IMEI (khe 2) 357967102884417 kèm theo sim V có số seri 8401220550279996IDE và sim V có số seri 8984048000900762909.
Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/11/2023 giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Công H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 26/12/2023).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC
Bản án số 78/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 78/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công H tàng trữ trái phép chất ma túy
