Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/DS-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Trần Mỹ Tân.
  2. Bà Nguyễn Thị Mười.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2024/TLST-DS, ngày 02 tháng 02 năm 2024 việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐST-DS, ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (OCB); Địa chỉ trụ sở chính: Số D và D đường L, phường B, quận A, Tp ..
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị H - Chức vụ: Chuyên viên phòng thu hồi nợ. (Theo Giấy ủy quyền số 35/2024/UQ-OCB ngày 25/9/2024)

    Địa chỉ liên hệ: Lầu 3, số A T, phường C, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật T1, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
  4. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam P1, Cục C, Bộ C1.

    (Bà Lê Thị H có mặt. Ông Nguyễn Nhật T1 có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2024 và những lời khai trình tại Tòa của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Ngân hàng TMCP P (O)Lê Thị H, trình bày:

Vào ngày 02/11/2021 ông Nguyễn Nhật T1 đã thỏa thuận ký kết với Ngân hàng TMCP P (O) (gọi tắt: Ngân hàng) Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng với số tiền vay 100.000.000 đồng, mục đích vay là dùng mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Thời hạn vay 60 tháng, lãi suất cho vay 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng TMCP P đã cấp hạn mức và thực hiện giải ngân số tiền vay nêu trên cho ông T1. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả gốc, lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu ông T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng đến nay ông T1 vẫn không thanh toán nợ gốc lãi cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Nhật T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ gốc lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 196.958.302 đồng, (trong đó nợ gốc là 96.693.882 đồng, nợ lãi là 100.264.420 đồng,) và phải trả tiền lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết kể từ sau ngày 26/9/2024 cho đến khi ông T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Nhật T1 có đơn xin vắng mặt. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2024, ông Nguyễn Nhật T1 trình bày: Ngày 02/11/2021 ông có ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP P (OBC) để vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền 100.000.000 đồng cho ông. Ông có thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi được khoảng 03 đến 04 kỳ, thì phải đi chấp hành hình phạt tù nên không thể tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng được. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông trả số nợ gốc vay và tiền lãi theo hợp đồng mở thẻ tín dụng ngày 02/11/2021 ông đồng ý. Hiện nay ông đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù, khi chấp hành xong về ông sẽ trả nợ đầy đủ cho ngân hàng. Ông yêu cầu xem xét lại tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tân Trụ phát biểu quan điểm: Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn ông Nguyễn Nhật T1 hiện đang chấp hành án phạt tù, có đơn xin vắng mặt, nên cần áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Nguyễn Nhật T1. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Nhật T1 phải thanh toán tổng số nợ gốc, lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 196.958.302 đồng và tiền lãi, phí phát sinh sau ngày 26/9/2024 theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả hết số nợ vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Qua lời khai trình của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các chứng cứ nguyên đơn xuất trình, Hội đồng xét xử xét thấy giữa Ngân hàng TMCP P với ông Nguyễn Nhật T1 có phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng; việc tranh chấp và thẩm quyền giải quyết được quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ thụ lý, giải quyết theo quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Nhật T1 hiện đang chấp hành án tại Trại giam P1, Cục C, Bộ C1, có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng, ngày 02/11/2021 được ông Nguyễn Nhật T1 ký kết với Ngân hàng TMCP P là hoàn toàn tự nguyện, khi ký hợp đồng các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung hợp đồng phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Nhật T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi nên Ngân hàng đã khởi kiện để yêu cầu thanh toán nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bên vay là ông Nguyễn Nhật T1 phải trả cho ngân hàng số nợ số gốc lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 196.958.302 đồng, (trong đó nợ gốc là 96.693.882 đồng, nợ lãi là 100.264.420 đồng) và tiền lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết kể từ sau ngày 26/9/2024 cho đến khi ông T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng.

[4] Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Nguyễn Nhật T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ngân hàng TMCP P không phải chịu án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Nhật T1.
  2. Buộc ông Nguyễn Nhật T1 phải cho Ngân hàng TMCP P số nợ gốc lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 196.958.302 đồng, (trong đó nợ gốc là 96.693.882 đồng, nợ lãi là 100.264.420 đồng).

    Ngoài ra, ông Nguyễn Nhật T1 còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết kể từ sau ngày 26/9/2024 cho đến khi ông T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng, theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng, được ký kết ngày 02/11/2021.

  3. Về án phí:
  4. Ông Nguyễn Nhật T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 9.847.915 đồng. Ngân hàng TMCP P không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.636.355 đồng theo biên lai số 0009321, ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Mỹ Tân - Nguyễn Thị Mười

Phạm Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 78/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng P "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Nhật T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger