Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/9/2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Lưu Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Chúc L, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt);
  2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng S, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14/11/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Chúc L trình bày, yêu cầu như sau: Chị và anh S cưới nhau năm 2015, đến năm 2019 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh chị chung sống hạnh phúc được 05 năm, đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường xuyên đi chơi, không lo cho vợ con, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, có lần anh còn đánh chị, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Chị và anh S có 01 con chung tên

Trần Trọng H, sinh ngày 15/9/2015, từ khi ly thân đến nay con do chị nuôi dưỡng. Anh chị không có tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai.

Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hoàng S, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con Trần Trọng H, sinh ngày 15/9/2015, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Hoàng S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn có lúc chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX cho chị Lê Thị Chúc L được ly hôn với anh Trần Hoàng S; về con chung giao cháu Trần Trọng H, sinh ngày 15/9/2015 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng nuôi con cùng chị L; về tài sản chung và nợ chung không tranh chấp nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị L và bị đơn anh S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ.

[3] Về quan hệ hôn nhân, chị L và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Giữa chị L và anh S trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã tìm nhiều giải pháp nhưng vẫn không thể khắc phục được, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay, nay chị L yêu cầu được ly hôn thì anh S cũng không có ý kiến gì phản đối, tại biên bản giao nhận thông báo anh S có ý kiến đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của chị L. Thấy rằng, chị L và anh S đã ly thân một thời gian, nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ để hàn gắn lại tình nghĩa vợ chồng, không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên quan hệ hôn nhân không được đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và

gia đình. Từ đó cho thấy giữa chị L và anh S mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L đối với anh S.

[4] Về con chung, chị L và anh S có 01 con chung là cháu Trần Trọng H, sinh ngày 15/9/2015, hiện chị L đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con, không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, thời gian qua con chung của chị L và anh S do chị L nuôi dưỡng và chăm sóc tốt; anh S vắng mặt và cũng không thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 81, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Trần Trọng H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Chị L không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung, chị L và anh S hiện không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí, nguyên đơn chị Lê Thị Chúc L chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 9, 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Chúc L và anh Trần Hoàng S.
  2. Về con chung: Giao con chưa thành niên tên Trần Trọng H, sinh ngày 15/9/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn (cháu H hiện nay đang sống chung với chị L).
  3. Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên HĐXX không xét.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm

    sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị Chúc L chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0005029 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, chị L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị L và bị đơn anh S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Minh;
  • - Chi cục THADS huyện An Minh;
  • - UBND xã Đông Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 78/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRanh chấp ly hôn L-S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger