Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ YÊN,

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày 24 -9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Anh

Ông Phạm Xuân Điệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Lường Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Tài T, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1994 tại Thanh Thủy – Phú Thọ. Nơi cư trú: khu X, thị trấn Y, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Y; có vợ và 01 con; tiền án: không; tiền sự: ngày 30 tháng 6 năm 2014 bị xử phạt vi phạm hành chính 6.000.000₫ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác theo Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC ngày 30/6/2014 của Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 7 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

- Bị hại: Bà Đinh Thị Quyển, sinh năm 1964, nơi cư trú: Bản Hợp Bông, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; “vắng mặt”.

- Người làm chứng: ông Đinh Công Sình, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/7/2024, bị cáo Tùng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, BKS: 59C2 - 500.61 đi từ nhà đến xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La để chơi và tìm việc làm. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/7/2024, Tùng đi đến khu vực bản Hợp Bông, xã Đá Đỏ thì nảy sinh ý định tìm thuyền của người dân để ven bờ sông để trộm cắp. Bị cáo Tùng đứng trên bờ sông quan sát thì thấy bà Đinh Thị Quyển đi thuyền về bờ, buộc dây vào bờ rồi đi về nhà. Đến 19h cùng ngày, bị cáo Tùng dắt chiếc xe mô tô của mình xuống 01 chiếc thuyền bằng kim loại, màu đỏ, có mái thuyền màu xanh, trên thuyền có gắn 01 chiếc máy nổ hiệu SUBARU, 7,5 mã lực (là thuyền của gia đình bà Đinh Thị Quyển). Sau đó, tháo chiếc dây thừng được buộc cố định thuyền, nổ máy, điều khiển thuyền đi xuôi theo dòng sông Đà. Tối ngày 07, 08/7/2024, Tùng ngủ trên thuyền, đến khoảng 12h ngày 09/7/2024, Tùng đi thuyền đến nhà ông Đinh Công Sình, sinh năm 1971, nơi cư trú xóm Hà, xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình gửi chiếc xe mô tô ở nhà ông Sình rồi quay lại thuyền và tiếp tục điều khiển thuyền đến xã Song Khủa, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La để tìm nơi bán thuyền. Đến khoảng 05h ngày 10/7/2024 thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định trưng cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL- ĐGTS ngày 15/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện Phù Yên kết luận: 01 chiếc thuyền bằng kim loại, màu đỏ, kích thước 09 m x 1,1 m x 1,2 m, có mái bằng kim loại màu xanh (mua mới và sử dụng tháng 05/2024) trị giá 17.500.000₫ và 01 chiếc máy nổ nhãn hiệu SUBARU loại 7.5HP trị giá 3.500.000đ. Tổng trị giá: 21.000.000đ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 52/CT – VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễn Tài T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tài T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tài T từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Đinh Thị Quyển 01 chiếc thuyền bằng kim loại 01 chiếc máy nổ nhãn hiệu SUBARU loại 7.5HP. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen BKS: 59C2 - 500.61

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Tài T nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.

Bị hại có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Kết thúc tranh luận, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Tài T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tài T khai nhận đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc thuyền bằng kim loại của gia đình bà Đinh Thị Quyển. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại cũng như của những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000₫ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Trị giá 01 chiếc thuyền bằng kim loại và 01 chiếc máy nổ của gia đình bà Đinh Thị Quyển là 21.000.000đ. Như vậy, hành vi của bị cáo Tùng đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội không lớn. Tuy nhiên, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ sở hữu tài sản của cá nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên, do hám lợi trước mắt, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.

[3.2] Về nhân thân, ngày 30 tháng 6 năm 2014, Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính 6.000.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, bản thân học hết lớp 9 thì nghỉ học ở nhà làm nghề lao động tự do.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn (bút lục số 95). Cho nên, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Đinh Thị Quyển 01 chiếc thuyền bằng kim loại và 01 chiếc máy nổ nhãn hiệu SUBARU loại 7.5HP là chủ sở hữu hợp pháp, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen BKS: 59C2 - 500.61 xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Tùng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

[7] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tài T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tài T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2024 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng:
  4. Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra về việc trả lại cho bà Đinh Thị Quyển (chủ sở hữu hợp pháp) 01 chiếc thuyền bằng kim loại và 01 chiếc máy nổ nhãn hiệu SUBARU loại 7.5HP.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tài T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen BKS: 59C2 - 500.61, số khung RLHJA3626EY016076, số máy JA36E-0056793.

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Tài T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2024); Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- Bị cáo;

- Bị hại (nếu có);

- VKSND huyện Phù Yên; Giao

- Người bào chữa (nếu có);

- TAND tỉnh;

- VKSND tỉnh;

- Cơ quan điều tra- CA huyện ;

- Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện;

- CQ Thi hành án hình sự; Gửi

- Trại TG (nhà tạm giữ);

- Sở tư pháp tỉnh;

- Người có QL,NVLQ;Nguyên đơn ds (nếu có);

- Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);

- Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tân Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger