|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 78/2024/HSST Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Ngọc Phan
- Ông Nguyễn Hồng Thăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:
Ông Trần Anh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/11/1967 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức T1 và con bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị V, sinh năm 1965; có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Tại bản án số 15 ngày 14/10/1987, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Tại bản án số 09/HSPT ngày 06/02/1988 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Thái (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên) y án sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Về phần dân sự, án phí hiện Tòa án nhân dân huyện Phú Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình không còn lưu trữ hồ sơ sổ thi hành án hình sự, thi hành án dân sự của Nguyễn Đức T vào năm 1987, 1988.
- + Tại bản án số 120/2014/HSST ngày 17/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 30/12/2020.
Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo bị bắt từ ngày 12/6/2024 cho đến nay (Có mặt)
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 12/6/2024 tổ công tác Công an thị trấn H, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường bê tông liên tổ thuộc khu vực tổ dân phố A của thị trấn thì phát hiện một người đàn ông đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Nguyễn Đức T, kiểm tra túi quần bên trái phía trước T đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy mềm màu trắng, bên trong gói giấy có 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là ma túy Heroine) do T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong cân xác định: Chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,363 gam, lấy toàn bộ cho vào 01 bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.
Ngày 13/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà ở của bị cáo tại TDP A, thị trấn H, huyện P kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 721/KL –KTHS ngày 20/6/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,363 gam.
Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến.
* Vật chứng của vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,352 gam hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong có chứa 01 gói giấy mềm màu trắng.
Cáo trạng số 78/CT -VKSPB ngày 06 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, Nguyễn Đức T đi bộ một mình đến khu vực đường tiếp giáp với trường Trung học cơ sở thị trấn H thuộc tổ dân phố L, thị trấn H, huyện P gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) và mua của người này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. T cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ về nhà để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực đường bê tông liên tổ T, thị trấn H thì bị tổ công tác Công an thị trấn H phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo T từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,352 gam hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, miệng bao thuốc lá dán băng dính màu vàng – đen, bên trong có chứa 01 gói giấy mềm màu trắng.
+ Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử không oan, đúng người, đúng tội.
Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 12/6/2024 tại khu vực tổ dân phố A, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đức T là người nghiện ma túy đang có hành vi tàng trữ 0,363 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thị trấn H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a,b...
c, H,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy đã bị Tòa án xét xử về tội ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc phù hợp với hành vi bị cáo gây ra, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên xét bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy về sử dụng không có mục đích hưởng lợi, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,352 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, miệng bao thuốc lá dán băng dính màu vàng – đen, bên trong có chứa 01 gói giấy mềm màu trắng.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,352 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, miệng bao thuốc lá dán băng dính màu vàng – đen, bên trong có chứa 01 gói giấy mềm màu trắng.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thanh Trúc |
1
2
3
4
5
6
7
Bản án số 78/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 78/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
